Người dân Hà Nội mua xăng. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN tại Sydney về những biện pháp Australia đã thực hiện để đảm bảo an ninh năng lượng trong bối cảnh những diễn biến phức tạp trên thị trường quốc tế hiện nay, ông Ahmed Albayrak - cộng tác viên nghiên cứu của Trung tâm Phát triển Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, thuộc Viện Lowy (Australia), cho rằng quốc gia châu Đại Dương này đang chịu ảnh hưởng nặng nề từ cú sốc năng lượng hiện nay.
Nguyên nhân của thực trạng này là do Australia có lượng dự trữ nhiên liệu rất thấp, phụ thuộc mạnh mẽ vào các sản phẩm lọc dầu nhập khẩu và hệ thống nhà máy lọc dầu quá nhỏ để thay thế nguồn cung từ châu Á hiện bị gián đoạn.
Theo ông Albayrak, trước thực trạng trên, Chính phủ Australia đã cho phép sử dụng nguồn nhiên liệu dự trữ khẩn cấp trong nước như một phần của kế hoạch ứng phó do Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) dẫn đầu, với lượng nhiên liệu tương đương khoảng 6 ngày tiêu thụ xăng và 5 ngày tiêu thụ dầu diesel.
Tuyên bố của Nội các Australia cũng đề cập đến việc giải phóng tới 20% lượng dự trữ dầu diesel và nhiên liệu để giảm bớt tình trạng thiếu hụt ở các khu vực, đặc biệt nhắm vào các vùng nông thôn và khai thác mỏ hiện đối mặt với tình trạng thiếu hụt do tâm lý mua sắm hoảng loạn và gián đoạn giao hàng. Cùng với đó, Chính phủ Australia đã nới lỏng các yêu cầu về lượng dự trữ cơ bản để ngành công nghiệp có thể sử dụng lượng hàng tồn kho vốn bị “khóa."
Theo đánh giá của ông Albayrak, những động thái này cho đến nay đã ngăn chặn được tình trạng thiếu hụt trên toàn hệ thống. Chính phủ Australia và các chuyên gia độc lập cho rằng nguồn cung nhiên liệu quốc gia được đảm bảo ít nhất cho đến giữa tháng 4/2026 và vấn đề chỉ tập trung ở những địa điểm cụ thể nơi nhu cầu tăng đột biến.
Do Australia chỉ có lượng dự trữ đủ dùng trong khoảng 38 ngày, mỗi lần xả hàng sẽ làm giảm đi một lượng dự trữ vốn rất ít ỏi. Vì vậy, trong trường hợp eo biển Hormuz vẫn đóng cửa trong nhiều tháng, những biện pháp này về cơ bản cũng chỉ giúp kéo dài thêm thời điểm phải áp dụng chế độ phân phối nhiên liệu hoặc các biện pháp hạn chế cầu nghiêm ngặt hơn.
Ông Albayrak cho rằng việc bổ sung dự trữ sau này có thể sẽ tốn kém và khó khăn nếu giá dầu toàn cầu vẫn ở mức cao và việc rút bớt dự trữ không làm thay đổi tình trạng phụ thuộc vào nhập khẩu.
Theo ông Albayrak, cú sốc dầu mỏ do tác động của xung đột Trung Đông gây ra đang củng cố, thay vì đảo ngược, sự chuyển dịch cấu trúc hướng tới các hệ thống năng lượng an toàn hơn, ít carbon hơn. Ngoài ra, hầu hết các nền kinh tế lớn đều báo hiệu rằng các chiến lược dài hạn sẽ tập trung mạnh hơn vào năng lượng tái tạo, điện khí hóa và khả năng phục hồi hệ thống, ngay cả khi họ đang cạnh tranh để có được nguồn cung nhiên liệu hóa thạch trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, giá nhiên liệu hóa thạch cao hơn đang làm tăng doanh thu ngắn hạn và khuyến khích một số nhà sản xuất đầu tư vào công suất dầu khí mới. Các dự báo gần đây của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho thấy sự điều chỉnh tăng lên đối với nhu cầu nhiên liệu hóa thạch dài hạn so với các kịch bản chuyển đổi năng lượng trước đó.
Đặc biệt, khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đang được coi là một tài sản chiến lược cho cả nhà sản xuất và nhà nhập khẩu ở châu Âu và châu Á, có thể giúp duy trì cơ sở hạ tầng trong một thời gian dài.
Ông Ahmed Albayrak, cộng tác viên nghiên cứu của Trung tâm Phát triển Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, thuộc Viện Lowy (Australia). (Ảnh: TTXVN phát)
Trong khi đó, nếu tình trạng thiếu hụt nguồn cung kéo dài, thế giới có thể rơi vào thời kỳ lạm phát với lãi suất tăng cao, kéo theo chi phí tài trợ cho các dự án năng lượng tái tạo có thể cao hơn trước đây. Về lý thuyết, giá dầu và khí đốt cao hơn có thể biện minh cho việc tài trợ cơ sở hạ tầng nhiên liệu hóa thạch.
Tóm lại, xu hướng dài hạn đang chuyển dịch mạnh mẽ hơn nữa hướng tới các hệ thống đa dạng, dựa vào nguồn lực trong nước và phát thải carbon thấp nhưng con đường này sẽ khác nhau giữa các khu vực.
Theo quan sát của ông Albayrak, nhu cầu năng lượng của Đông Nam Á dự báo sẽ tăng trưởng nhanh đến mức khu vực này chiếm khoảng 1/4 tổng mức tăng nhu cầu năng lượng toàn cầu đến năm 2035. Tuy nhiên, Đông Nam Á vẫn phụ thuộc nhiều vào dầu khí nhập khẩu, phần lớn đến từ Trung Đông.
Vì vậy, ông Albayrak cho rằng Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng cần kết hợp an ninh năng lượng và chuyển đổi năng lượng thành một chương trình nghị sự, đồng thời thực hiện các kế hoạch hiện có như Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (PDP8) và Lưới điện Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) bằng cách ưu tiên truyền tải, lưu trữ, khí đốt linh hoạt và đáp ứng nhu cầu, thay vì chỉ công bố thêm các mục tiêu về công suất. Mục tiêu là đáp ứng tốc độ tăng trưởng nhu cầu rất nhanh trong khi giảm sự phụ thuộc vào than đá, dầu mỏ và khí hóa lỏng nhập khẩu - tình trạng mà IEA nhận định đang làm gia tăng rủi ro an ninh năng lượng và lượng khí thải theo các chính sách hiện hành.
Thực trạng trên đòi hỏi cải cách về thuế quan, quản trị doanh nghiệp nhà nước và hợp đồng để vốn tư nhân và vốn ưu đãi có thể mở rộng quy mô năng lượng tái tạo và tính linh hoạt. Theo đó, để đáp ứng nhu cầu tăng cao, đồng thời giảm phụ thuộc vào than, dầu và khí đốt tự nhiên hóa lỏng nhập khẩu, chuyển trọng tâm của khu vực từ an ninh nhập khẩu sang an ninh hệ thống, trong khi vẫn duy trì tăng trưởng nhanh chóng./.
(TTXVN/Vietnam+)