Chia sẻ tại tọa đàm “Sử dụng xăng E10 có đáng lo?” do Cổng Thông tin điện tử Chính phủ tổ chức diễn ra ngày 1/6, PGS.TS. Phạm Hữu Tuyến - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện tự hành, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết: xăng sinh học E10 đã được sử dụng trên thế giới từ những năm 80 của thế kỷ trước. Tại khu vực Đông Nam Á, Thái Lan cũng đã sử dụng loại xăng này từ những năm 2000 đến nay.
Theo PGS.TS. Phạm Hữu Tuyến, trong điều kiện Việt Nam, các nhà sản xuất ô tô, xe máy đã khẳng định khả năng tương thích của các chi tiết động cơ với xăng sinh học E10. Việc tương thích cần được hiểu là mức độ tác động của E10 tới các chi tiết, vật liệu trên động cơ tương đương với xăng khoáng trong quá trình sử dụng thông thường. Bởi ngay cả khi dùng xăng khoáng, các chi tiết như ống dẫn nhiên liệu, gioăng cao su hay các vật liệu liên quan cũng có thể suy giảm chất lượng theo thời gian.
“Như vậy, chúng ta không nên lo ngại về ảnh hưởng của xăng E10 đến độ bền động cơ”, PGS.TS. Phạm Hữu Tuyến nói.
Đối với một số phương tiện sản xuất đã lâu, nhất là xe từ khoảng năm 2000 trở về trước, nhóm nghiên cứu cũng đã thử nghiệm trên một số mẫu động cơ ô tô, xe máy thế hệ cũ. Kết quả cho thấy, ở một số mẫu xe, tác động của xăng E10 hoàn toàn tương đương xăng khoáng; ở một số mẫu xe rất cũ, mức chênh lệch nếu có cũng không đáng kể.
Ông Phạm Hữu Tuyển - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và Phương tiện tự hành, Đại học Bách khoa Hà Nội.
Từ các kết quả này, PGS.TS. Phạm Hữu Tuyến cho rằng người sử dụng có thể yên tâm khi dùng xăng sinh học E10. Với những phương tiện quá cũ, trong trường hợp xe cho phép sử dụng xăng có trị số octan RON 92, người dùng có thể lựa chọn xăng E5 RON 92 hiện vẫn đang lưu hành trên thị trường.
Trước băn khoăn cho rằng sử dụng xăng E10 có thể khiến ô tô, xe máy yếu máy, tụt ga hoặc hao xăng hơn, ông Lỗ Hải Nam, Trưởng ban Kỹ thuật Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM), cho biết, xăng E10 là loại xăng có nhiệt trị thấp hơn xăng khoáng thông thường. Do đó để đảm bảo công suất của động cơ, lượng tiêu thụ nhiên liệu khi sử dụng E10 sẽ tăng so với xăng khoáng thông thường khoảng 2%. Mức này rất nhỏ, gần như không cảm nhận thấy gì.
Về mặt kỹ thuật là mức tiêu thụ nhiên liệu có thể sẽ chênh lệch so với xăng khoáng thông thường, trên nghiên cứu và đánh giá nhiên liệu thực tế, nhưng không đáng kể.
Với tư cách một chuyên gia kỹ thuật động cơ – ông Phạm Hữu Tuyển - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và Phương tiện tự hành, Đại học Bách khoa Hà Nội cũng khẳng định: Xăng E10 nếu nói về mật độ năng lượng hay là nhiệt trị thì thấp hơn khoảng đâu đó 3-4% so với xăng khoáng. Tuy nhiên, quá trình cháy ở trong xi lanh động cơ để tạo ra năng lượng thì nó lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chứ không chỉ yếu tố về nhiệt trị.
Ông lấy ví dụ như do xăng E10 có chứa một hàm lượng oxy nhỏ nên giúp quá trình cháy trong xi lanh động cơ triệt để hơn, qua đó giảm các thành phần HC, CO sinh ra khi nhiên liệu cháy chưa triệt để. Như vậy, dùng E10 thì hiệu suất nhiệt trong xi lanh sẽ được nâng lên. Một số yếu tố khác nữa, mặc dù nhỏ, như khối lượng riêng của cồn ethanol lớn hơn khối lượng riêng của xăng khoáng và như vậy dẫn đến 1 lít E10 cũng nặng hơn một chút xíu so với xăng khoáng. Đây cũng là một yếu tố bù đắp cho phần giảm về nhiệt trị.
“Như vậy, với quá trình cháy cũng được nhiều yếu tố tích cực hỗ trợ bổ sung thì việc giảm tiêu thụ nhiên liệu do nhiệt trị không chỉ đơn thuần là phụ thuộc vào nhiệt độ nhiệt trị. Các kết quả thử nghiệm tại Trung tâm Nghiên cứu các nguồn động lực và phương tiện giao thông vận tải trường Đại học Bách khoa Hà Nội cũng thấy rằng sự thay đổi về công suất, về tiêu thụ nhiên liệu khi sử dụng xăng sinh học E10 hoàn toàn có thể tương đương khi các phương tiện sử dụng xăng khoáng”, ông Tuyển nói.
Khoảng 97% dân số thế giới sử dụng xăng sinh học
Ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam.
Thông tin tại tọa đàm, ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam cho hay, trên thế giới có khoảng 65 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm khoảng 97% dân số thế giới, áp dụng xăng sinh học. Con số 65 có thể không phản ánh được toàn bộ khoảng 200 quốc gia, nhưng thực sự gần như là phủ khắp dân số thế giới.
Lấy ví dụ ở Mỹ, ông Đỗ Văn Tuấn dẫn tỉ lệ sử dụng xăng E10 là 98%, đâu đó chỉ có khoảng 2% là xăng khoáng dành cho những khu vực vẫn phải có những trạm bơm.
Ông cũng đưa ra ví dụ liên quan đến các châu lục khác, như châu Âu sử dụng xăng E10 phổ biến. Hay châu Á, các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Thái Lan đều sử dụng xăng E10. Australia cũng sử dụng xăng E10. Nhật Bản rất thận trọng nhưng cũng có lộ trình đến năm 2027 sử dụng xăng E10.
Như vậy, tại những khu vực và các quốc gia phổ biến trên thế giới, hầu hết E10 đã trở thành xăng tiêu chuẩn.
Thông qua những con số trên, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam đưa ra 2 thông điệp:
Thứ nhất, chúng ta không mất bài học thử nghiệm bởi vì các nước khác đã thử nghiệm xăng E10. Mỹ là quốc gia sử dụng xăng E10 từ năm 1985. Như vậy Việt Nam sử dụng một sản phẩm thế giới đã thử nghiệm.
Thứ hai, xăng dầu là một sản phẩm có tiêu chuẩn quốc tế rất cao. Ông Tuấn cho rằng xăng E10 ở Việt Nam và nước ngoài, tiêu chuẩn về cơ bản là giống nhau, có thể chỉ khác nhau một số phụ gia nhất định. Như vậy, chúng ta không mất quá trình để chuyển đổi. Và như thế, chúng ta không mất thời gian để đánh giá lại tính hiệu quả của xăng E10 trong sử dụng cũng như bức tranh kinh tế tổng thể.
Thanh Hà