Chuyên gia nói gì về việc bắt buộc kiểm định xe máy từ cuối tháng 6-2026?

Chuyên gia nói gì về việc bắt buộc kiểm định xe máy từ cuối tháng 6-2026?
3 giờ trướcBài gốc
Thông tư 92 được Bộ NN&MT ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về khí thải mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ (QCVN 99:2025/BNNMT). Theo đó, từ ngày 30-6-2026 sẽ bắt đầu kiểm định xe máy.
Sẽ kiểm định khí thải xe máy từ 30-6-2026
Quy chuẩn này áp dụng cho: Các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ; Các cơ sở, tổ chức thực hiện việc kiểm định khí thải cho mô tô, xe gắn máy; Các cơ quan quản lý nhà nước liên quan; Không áp dụng đối với mô tô, xe gắn máy thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.
Từ 30-6-2026 sẽ kiểm định khí thải xe máy. Ảnh: TN
Quy chuẩn này đưa ra giá trị giới hạn các thông số khí thải của xe máy dựa trên hai thông số là CO (Carbon Monoxide), HC (Hydrocacbon) và được chia làm 4 mức.
Với mức 1, lượng CO cho phép là 4,5% và HC với động cơ hai kỳ lên tới 10.000 ppm và động cơ bốn kỳ là 1.500 ppm (đơn vị đo lường nồng độ cực thấp, biểu thị một phần của một chất trên một triệu phần của tổng thể (1/1.000.000)).
Ở mức 2, ngưỡng CO giới hạn 4,5%, còn HC là 7.800 ppm với động cơ hai kỳ và 1.200 ppm với động cơ bốn kỳ.
Mức 3 có tiêu chuẩn cao hơn với giới hạn CO là 3,5%, HC của động cơ bốn kỳ là 1.100 ppm, còn động cơ hai kỳ siết xuống chỉ 2.000 ppm.
Giới hạn CO ở mức 4 là 2% và HC của động cơ bốn kỳ xuống 1.000 ppm còn động cơ hai kỳ giữ mức 2.000 ppm như mức 3.
Tuy QCVN 99:2025/BNNMT có hiệu lực từ 30-6-2026 song lộ trình cụ thể về việc áp dụng quy chuẩn này sẽ do Chính phủ quy định sau.
Việc kiểm định và đo khí thải phải được thực hiện tại các cơ sở kiểm định khí thải được chứng nhận đủ điều kiện theo pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Bên cạnh đó để thực hiện kiểm định khí thải mô tô, xe gắn máy sau khi lộ trình áp dụng quy chuẩn được ban hành, Bộ Xây dựng cũng đang hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 166/2024, trong đó đề xuất nới điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy nhằm tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tham gia.
Theo dự thảo lộ trình và nội dung quy chuẩn, các mức khí thải áp dụng cho mô tô, xe gắn máy theo năm sản xuất như sau:
Xe lưu hành – phân theo năm sản xuất: Mức 1 là xe sản xuất trước 2008. Mức 2 là xe sản xuất từ 2008 đến 2016. Mức 3 áp dụng cho xe sản xuất từ 2017 đến ngày 30-6-2026. Mức 4 áp dụng đối với những xe sản xuất sau ngày 1-7-2026.
Điều này có thể đồng nghĩa với việc xe máy sản xuất mới sau mốc giữa năm 2026 sẽ phải đáp ứng tiêu chuẩn khí thải nghiêm ngặt hơn ngay khi bắt đầu lưu hành ra thị trường.
Mức khí thải xe máy theo dự thảo là phù hợp
Ông Huỳnh Minh Châu, chuyên gia ô tô, xe máy cho rằng với mức khí thải theo dự thảo là phù hợp vì xe máy nhỏ, nên lượng thải nó thấp.
“Nếu nhìn vào các mức 1–2 cho xe cũ, những xe đang chạy hiện nay chỉ cần bảo dưỡng tốt là vẫn đạt. Đối với mức 3–4 chủ yếu áp dụng cho xe mới, vốn đã có xúc tác và phun xăng điện tử”- ông Châu cho hay.
Theo ông Châu, so với tiêu chuẩn châu Âu, Việt Nam chỉ đo 2 chỉ số là không kiểm tra khi xe chạy, chỉ đo tại chỗ. Đồng thời cũng không yêu cầu retrofit (lắp thêm thiết bị).
“Vì vậy, mức khí thải đặt ra là tương đối “dễ thở”, nhẹ nhàng cho người dân. Đăng kiểm để người dân dần nhận thức là xe gây ô nhiễm và dần dần thay đổi thói quen, nếu mua xe mới sẽ mua xe điện để bảo vệ môi trường”- ông Châu chia sẻ thêm.
Theo ông Châu, mức khí thải không phải là vấn đề người dân quan tâm nhiều mà người dân sẽ quan tâm hơn lộ trình thực hiện và cách thức thực hiện để không xảy ra tình trạng xếp hàng khi đi kiểm định xe máy.
Các chuyên gia cho rằng áp dụng tiêu chuẩn khí thải mức 4 đối với xe máy mới là phù hợp. Ảnh: TN
Trao đổi với PLO, PGS-TS Đỗ Văn Dũng, Chủ tịch Hội ô tô và thiết bị động lực TP.HCM, Thông tư 92/2025 của Bộ TN&MT có hiệu lực từ ngày 30-6-2026. Lộ trình áp dụng cụ thể sẽ do Thủ tướng Chính phủ quy định, nhưng một số thông tin có thể có sự linh hoạt, ví dụ Hà Nội và TP.HCM có thể bắt đầu từ 1-7-2027 hoặc sớm hơn.
Phân loại xe lưu hành theo năm sản xuất
Mức 1: Xe sản xuất trước 2008. Mức 2: Xe sản xuất từ 2008 đến 2016. Mức 3: Xe sản xuất từ 2017 đến 30-6-2026. Mức 4: Xe sản xuất sau 1-7-2026.
1.Yêu cầu khí thải cụ thể theo quy chuẩn Quy chuẩn tập trung vào hai thông số chính là CO (Carbon Monoxide, tính bằng % thể tích) và HC (Hydrocarbon, tính bằng ppm thể tích), đo tại chế độ không tải (idle test).
Giới hạn tối đa cho phép như sau: Thông số Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 CO (% thể tích) 4.5 4.5 3.5 2.0 HC (ppm thể tích) Động cơ 4 kỳ 1,500 1,200 1,100 1,000 HC (ppm thể tích) - Động cơ 2 kỳ 10,000 7,800 2,000 2,000
“Yêu cầu trong quy chuẩn này không quá nghiêm ngặt, đặc biệt khi so sánh với tiêu chuẩn quốc tế như Euro (áp dụng ở châu Âu và một số nước châu Á). Cụ thể, đối với xe cũ (Mức 1 và 2), giới hạn khá rộng rãi, thậm chí lỏng lẻo hơn một số tiêu chuẩn cũ của Euro 2 (CO khoảng 3.5-5.5% tùy loại, nhưng Euro tập trung vào đo theo chu kỳ lái xe chứ không chỉ không tải như ở Việt Nam)”- PGS-TS Dũng phân tích.
Vị PGS-TS đưa ra ví dụ, HC cho động cơ 2 kỳ ở Mức 1 lên đến 10,000 ppm, phù hợp với xe cũ (nhiều xe 2 kỳ ở Việt Nam như Honda Cub đời cũ vẫn có thể đạt nếu bảo dưỡng tốt).
Đối với xe mới hơn (Mức 3 và 4), giới hạn chặt hơn nhưng vẫn “nhẹ nhàng” hơn Euro 4 hoặc Euro 5 (Euro 5 yêu cầu CO dưới 1 g/km và HC dưới 0.1 g/km theo chu kỳ WMTC, tương đương không tải thấp hơn nhiều).
“Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển tiếp và quy chuẩn này được thiết kế phân cấp theo tuổi xe để tránh ảnh hưởng lớn đến người dân. So với các nước lân cận như Thái Lan hay Ấn Độ (áp dụng idle test - không tải), mức của Việt Nam tương đương hoặc dễ đạt hơn, tập trung giảm ô nhiễm không khí đô thị mà không loại bỏ hàng loạt xe cũ ngay lập tức”- PGS-TS Dũng cho hay.
PGS-TS Dũng, nếu áp dụng, tỷ lệ xe không đạt có thể khoảng 10-20% ban đầu, chủ yếu do thiếu bảo dưỡng, nhưng có thể cải thiện qua sửa chữa. Tổng thể, đây là bước tiến hợp lý để cải thiện chất lượng không khí, nhưng không “quá cao” so với thực tế xe máy ở Việt Nam.
Các bước cụ thể để không "sợ" kiểm định xe máy
PGS-TS Đỗ Văn Dũng đưa ra lời khuyên, để đạt chuẩn, không cần đầu tư lớn mà chủ yếu tập trung bảo dưỡng định kỳ.
Bảo dưỡng định kỳ (mỗi 3-6 tháng hoặc 2.000-5.000 km): Mang xe đến garage uy tín để kiểm tra và điều chỉnh hệ thống nhiên liệu (bộ chế hòa khí hoặc phun xăng điện tử), hệ thống đánh lửa (bugi, dây cao áp). Xe carburetor cũ dễ vượt giới hạn nếu không chỉnh đúng.
Thay thế phụ tùng liên quan đến khí thải: Lọc gió: Làm sạch hoặc thay mới để đảm bảo không khí sạch, giảm HC. Dầu nhớt: Thay dầu chất lượng cao (theo khuyến cáo nhà sản xuất) trước khi kiểm định để động cơ chạy mượt, giảm CO. -Bugi và lọc xăng: Thay nếu cũ để đốt cháy tốt hơn. Ống xả: Kiểm tra không rò rỉ, nếu có bộ xúc tác (catalyst) thì đảm bảo còn hoạt động (xe mới thường có).
Sử dụng nhiên liệu và thói quen lái xe: Đổ xăng RON 92-95 từ trạm uy tín, tránh xăng kém chất lượng. Tránh độ chế như thay pô to, tăng dung tích xi-lanh-những thứ làm tăng khí thải. Lái xe nhẹ nhàng, tránh nổ máy lâu không tải.
Đối với xe cũ (Mức 1-2): Nếu không đạt, có thể cần đại tu động cơ hoặc thay bộ chế hòa khí mới. Xe 2 kỳ cũ có giới hạn rộng, nhưng nếu quá cũ (trên 20 năm) có thể khó đạt và cần cân nhắc thay xe mới.
Chuẩn bị trước kiểm định: Chạy xe ấm máy 5-10 phút trước khi đo, tránh kiểm tra khi xe lạnh. Nếu không đạt, sửa chữa và kiểm tra lại (phí tái kiểm thấp hơn). Nếu xe của thuộc Mức 3 trở lên (xe mới), khả năng đạt cao nếu bảo dưỡng tốt. Có thể kiểm tra sơ bộ tại garage có máy đo khí thải để ước lượng trước.
THY NHUNG
Nguồn PLO : https://plo.vn/chuyen-gia-noi-gi-ve-viec-bat-buoc-kiem-dinh-xe-may-tu-cuoi-thang-6-2026-post891373.html