VinaCapital vừa công bố báo cáo “Lộ trình hướng tới xếp hạng Tín nhiệm mức Đầu tư của Việt Nam” được thực hiện bởi hai tác giả bao gồm ông Michael Kokalari, CFA, giám đốc phòng phân tích kinh tế vĩ mô và nghiên cứu thị trường và bà Thái Thị Việt Trinh, chuyên gia phân tích kinh tế vĩ mô.
Theo chuyên gia VinaCapital, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng được nâng xếp hạng tín nhiệm lên mức Đầu tư (investment grade) khi hiện chỉ còn cách mức này một bậc.
Việc đạt được xếp hạng Đầu tư sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng, bao gồm giảm chi phí huy động vốn; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi triển khai các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn; và hỗ trợ thị trường chứng khoán thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận của các nhà đầu tư tổ chức quốc tế.
Do đó, việc được nâng hạng tín nhiệm trở nên cấp thiết hơn trong bối cảnh Việt Nam đang cần huy động nguồn lực tài chính lớn để thực hiện các kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các dự án quy mô lớn sử dụng công nghệ nhập khẩu như đường sắt cao tốc và sản xuất điện - đòi hỏi nguồn vốn lớn bằng ngoại tệ.
Cũng theo chuyên gia VinaCapital, Chính phủ đã đặt mục tiêu đạt mức xếp hạng Đầu tư vào năm 2030, tuy nhiên, những diễn biến gần đây và các trao đổi của VinaCapital với một số tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn củng cố quan điểm rằng việc nâng xếp hạng có thể đạt được trong thời gian sớm hơn.
Tuần trước, Fitch Ratings đã nâng xếp hạng tín nhiệm đối với công cụ nợ dài hạn có bảo đảm của Việt Nam lên mức BBB- [ Fitch Upgrades Vietnam's Long-Term Senior Secured Debt Instruments to 'BBB-'; Fitch Ratings, January 2026.. Lưu ý rằng việc nâng hạng này chỉ áp dụng cho một lô trái phiếu Brady bằng USD được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ bằng trái phiếu không lãi suất của Kho bạc Hoa Kỳ, và đáo hạn vào năm 2028. Xếp hạng ngoại tệ dài hạn đối với công cụ nợ không có đảm bảo của Việt Nam vẫn giữ mức BB+, dưới mức Đầu tư.], đánh dấu lần đầu tiên một công cụ nợ liên quan đến quốc gia (sovereign-linked) của Việt Nam được xếp hạng mức đầu tư.
Vừa qua, Chính phủ cũng đã công bố các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu đạt xếp hạng tín nhiệm mức đầu tư (trình bày chi tiết ở phần dưới).
Tóm lại, Việt Nam hiện đã đáp ứng phần lớn các tiêu chí định lượng cần thiết cho việc nâng hạng (ví dụ như tỷ lệ nợ trên GDP) và các tiêu chí cần cải thiện chủ yếu nằm ở mức độ định tính (ví dụ khả năng dự đoán của chính sách).
Chuyên gia VinaCapital cũng cho rằng các vấn đề này sẽ ngày càng được chú trọng hơn khi nhận thức về tầm quan trọng của việc đạt xếp hạng tín nhiệm mức đầu tư tiếp tục gia tăng. Hiện nay, Việt Nam đang được xếp hạng thấp hơn một bậc so với mức đầu tư bởi S&P và Fitch, và thấp hơn hai bậc theo đánh giá của Moody’s.
Việc được nâng hạng tín nhiệm lên mức đầu tư có thể mang lại kết quả còn lớn hơn với thị trường chứng khoán Việt Nam so với sự kiện gần đây khi FTSE Russell xem xét Việt Nam được nâng hạng vào nhóm thị trường mới nổi.
Trong lịch sử, những quốc gia lần đầu tiên được nâng lên mức xếp hạng tín nhiệm mức Đầu tư thường ghi nhận mức tăng rất mạnh của thị trường chứng khoán trong giai đoạn xoay quanh thời điểm nâng hạng.
Cụ thể, chỉ số chứng khoán của Ấn Độ tăng khoảng 308% và của Thái Lan tăng khoảng 150% khi tính từ hai năm trước đến hai năm sau thời điểm được nâng hạng.
Bên cạnh đà tăng của thị trường cổ phiếu, các đợt nâng hạng này còn kích hoạt làn sóng dòng vốn ngoại chảy mạnh vào các nền kinh tế nói trên, không chỉ thông qua cổ phiếu mà còn qua trái phiếu và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Nhờ đó, dự trữ ngoại hối của Ấn Độ đã tăng khoảng 150% và của Thái Lan tăng khoảng 250% chỉ trong vòng hai năm kể từ khi được nâng hạng.
Ngọc Diệp