Vì một lời biện bạch cho học trò, mà cả quãng đời về sau Vũ Trinh phải sống trong sự quản thúc của triều đình.
Vũ Trinh (1759 - 1828) tự Duy Chu, hiệu Huệ Văn tiên sinh, người thôn Thọ Diên, xã Xuân Lan, tổng Lâm Thao, huyện Lương Tài, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay là xã Lâm Thao, tỉnh Bắc Ninh). Không chỉ là một danh sĩ, một trọng thần triều Lê Trung hưng, ông còn là một quan lại có tiếng triều nhà Nguyễn.
Khoa bảng xưng danh, loạn thế thử tài
Theo tư liệu gia phả và đăng khoa lục, Vũ Trinh xuất thân trong một dòng dõi khoa bảng, ông nội là Vũ Miên đỗ Hội nguyên Tiến sĩ thời Lê - Trịnh, làm quan đến chức Nhập thị hành Tham tụng (quyền Tể tướng); khi mất được truy tặng chức Binh bộ Thượng thư.
Cha của Vũ Trinh là Vũ Chiêu đỗ Hương giải, từng giữ các chức vụ quan trọng, như: Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Hàn lâm viện Thị chế, Tham đồng, Đề lĩnh Tứ thành quân vụ, Sơn Nam đạo Thừa chính sứ. Mẹ của Vũ Trinh xuất thân trong một gia đình vọng tộc ở Chí Linh, là cháu nội của Tham tụng Trần Cảnh.
Vũ Trinh từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng; sách chỉ cần xem qua một lượt là có thể đọc lại vanh vách, lại có tài ứng đối, giỏi thơ văn. Có sách thời cũ chép rằng: “Ông Trinh thiên tư đĩnh ngộ, thuở nhỏ đã có thanh danh”. Năm 17 tuổi, ông đỗ đầu kỳ thi Hương (Giải nguyên), được bổ nhiệm làm Tri phủ Quốc Oai.
Vũ Trinh từng dự thi Hội và đỗ Tam trường, tuy nhiên do xã hội rối ren cuối thời Lê, nhiều cống sĩ khi ấy không còn cơ hội thi thố ở các khoa thi Tiến sĩ. Sử liệu cho biết, có những người tuy chưa đỗ đại khoa nhưng danh tiếng còn vượt cả các Tiến sĩ, trong đó có Vũ Trinh hay Nguyễn Huy Tự.
Vũ Trinh giữ chức Tri phủ Quốc Oai trong khoảng hơn 10 năm. Năm 1786, khi Nguyễn Huệ ra Bắc với danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”, Lê Chiêu Thống được đưa lên ngôi và triệu Vũ Trinh về triều. Bấy giờ, tình hình chính trị hết sức rối ren, các thế lực, phe phái cát cứ, tranh chấp lẫn nhau. Nguyễn Hữu Chỉnh ban đầu có công ổn định trật tự trong ngoài, nhưng sau đó lại muốn thâu tóm quyền lực, lấn át vua Lê.
Lê Chiêu Thống có ý định giết Chỉnh để “nhất thống” quyền hành, đã bí mật bàn với Vũ Trinh. Tuy nhiên, Vũ Trinh can rằng: “Chỉnh tuy đáng giết, nhưng bên ngoài đang có giặc mạnh, bên trong lại trừ kẻ cường thần, e chưa nên tự gây biến trước”. Vua nghe theo, nhờ đó Bắc Hà tạm tránh được một cuộc thanh trừng nội bộ lớn.
Do Nguyễn Hữu Chỉnh tiếp tục lấn át quyền hành, năm 1787 quân Tây Sơn tiến ra Bắc lần thứ hai; Hữu Chỉnh bị giết, Lê Chiêu Thống phải bỏ kinh thành chạy trốn. Vũ Trinh cùng cha đã đón vua về nhà, dốc hết gia sản để lo việc quân. Trong khi nhóm Lê Quýnh chạy sang nhà Thanh cầu viện, cha con Vũ Trinh phò Lê Chiêu Thống lưu lạc qua nhiều vùng như Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, rồi ẩn náu tại vùng núi Huyền Đinh để chờ thời.
Khi quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy tiến sang, các cựu thần nhà Lê phần lớn đều lánh mặt; riêng Vũ Trinh vâng mệnh vua mang rượu ra khao quân, đồng thời trình bày trôi chảy tình hình trong nước, khiến người Thanh phải khen là “rành mạch”.
Từ những sự việc đó có thể thấy, Vũ Trinh là người có bản lĩnh, có năng lực tổ chức, đồng thời hết lòng phò tá nhà Lê. Vì vậy, sau khi dựa vào quân Thanh để trở lại ngai vàng, Lê Chiêu Thống đã phong ông chức Tham tri chính sự. Tuy nhiên, dường như Vũ Trinh không trực tiếp giao tiếp thường xuyên với phía nhà Thanh, cũng không phải có mặt trong đoàn vua tôi nhà Lê hằng ngày đến chầu tại dinh Tôn Sĩ Nghị.
Mộc bản sách “Hoàng Việt luật lệ” do Vũ Trinh cùng Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành và Trần Hựu soạn thảo.
Giữ trọn đạo nghĩa vua tôi
Mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1789), Quang Trung ra Bắc đánh tan quân Thanh, Lê Chiêu Thống theo Tôn Sĩ Nghị chạy sang phương Bắc. Vũ Trinh không theo kịp, trở về ẩn lánh nơi thôn dã, kiên quyết không ra làm quan với triều Tây Sơn.
Tuy nhiên, vào khoảng cuối những năm 1790, ông đã trở lại Thăng Long, giao du mật thiết với giới trí thức kinh kỳ, đặc biệt là nhóm Thiền viện của Ngô Thì Nhậm ở phường Bích Câu. Đây là một nhóm có khuynh hướng tư tưởng đa dạng, song hoạt động nghiên cứu kinh sách, giáo lý khá nghiêm túc. Thành quả tiêu biểu là “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh” - công trình nghiên cứu về kinh Viên Giác; trong đó, Vũ Trinh là một trong hai tác giả đảm nhiệm phần “Thanh chủ”.
Năm 1802, nhà Tây Sơn bị diệt, vua Gia Long ra Bắc Thành, ban chiếu triệu các cựu thần nhà Lê. Vũ Trinh cùng Lê Duy Đản, Nguyễn Duy Hợp, Phạm Quý Thích… được triệu đến yết kiến ở Hành tại và được ban thưởng. Vũ Trinh được trao chức Thị trung học sĩ và theo vua vào Phú Xuân, trở thành đình thần của vương triều mới.
Tuy vậy, năm Gia Long thứ hai (1803), khi hài cốt vua Lê Chiêu Thống được đưa về nước, triều đình bàn nên lấy Lê Diên đứng ra lãnh việc tang ma, nhưng bộ Lễ lấy làm khó nói khi báo việc này cho Bắc Thành (cơ quan đại diện cho triều đình cai quản vùng Bắc Bộ), vì không biết xưng hô với vị vua đã khuất này như thế nào cho phải lễ, viết thẳng tên ra liệu có được chăng? Vũ Trinh nói: “Thánh triều nên lấy đạo hậu hĩ mà đối xử với triều đã mất, xin cứ để hiệu cũ mà gọi là Lê Chiêu Thống cho đúng lễ”.
Vua khen là phải. Vũ Trinh nhân đó tâu rằng: “Thần vốn là bề tôi của nhà Lê trốn tránh ở lại, vậy, xin được giải chức để về Bắc, lên cửa ải Nam Quan mà đón tang”. Vua khen là người có nghĩa, chuẩn y cho đi nhưng không cho từ chức, mà nhân đó giao ông nhiệm vụ khảo sát đê điều ở Bắc Thành; hoàn thành xong việc, ông lại được triệu về kinh.
Năm 1807, Vũ Trinh được cử làm Giám thí trường thi Sơn Tây, có dịp trở lại miền Bắc. Hai năm sau (1809), ông được cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh mừng thọ. Trong chuyến đi này, ông sáng tác “Sứ Yên thi tập”. Khi trở về, ông được giao cùng Trần Hựu tham gia biên soạn “Hoàng Việt luật lệ” dưới sự chủ trì của Nguyễn Văn Thành. Đây là bộ luật đầu tiên của triều Nguyễn, thường gọi là Bộ luật Gia Long, gồm 398 điều, điều chỉnh các lĩnh vực thuộc sáu bộ: Hộ, Hình, Lại, Binh, Lễ, Công. Vua Gia Long đích thân viết lời tựa, cho in và ban hành vào năm 1813.
Cũng trong năm 1813, Vũ Trinh được thăng chức Hữu Tham tri bộ Hình và được giao làm Giám khảo trường thi Quảng Đức. Qua quá trình làm việc, Nguyễn Văn Thành rất trọng tài năng của ông, đã cho con là Nguyễn Văn Thuyên theo học.
Tác phẩm “Lan Trì kiến văn lục” của Vũ Trinh.
Nếu có tội thì vươn đầu chịu chém
Năm 1816, Nguyễn Văn Thuyên bị Nguyễn Trường Hiệu tố cáo về tội mưu phản, lấy bài thơ của Nguyễn Văn Thuyên sáng tác để làm chứng. Nguyễn Văn Thuyên phản bác, nói như thế là vu cáo. Vua nói với các thị thần rằng: “Nếu như (Nguyễn Văn) Thuyên không có ý làm giặc, thì tại sao thơ hắn lại chứa sự bội nghịch thế này?”.
Vũ Trinh là một đại quan ở bộ Hình lại là thầy của Nguyễn Văn Thuyên nên có ý bênh vực. Ông ra sức biện minh cho học trò, rằng: “Thơ ấy, lời quê kệch và trái lẽ, nhưng trong đó có câu: U cốc sinh hương thiên lý viễn (nghĩa là: Hang sâu mà có hoa lan sinh sản ra được thì tiếng thơm có thể bay đến ngàn dặm).
Xét kĩ, chữ này chỉ hoa, lẽ phải viết với bộ thảo ở trên, dưới có chữ giản, ngoài bọc bởi chữ môn, thế mà lại viết thành chữ hương là hương thơm, tức là còn biết kính tránh quốc húy. Ngay một chữ ấy mà còn biết kính tránh thì cũng đủ biết hắn không phải là hạng có ý bạo nghịch được”.
Vua giận lắm, nói rằng: “Bênh vực đến quá như thế, chẳng phải là một lũ a dua hay sao?”. Nói rồi, vua sai đoạt hết quan chức của Vũ Trinh và tống giam vào ngục. Khi triều đình còn đang nghị bàn, lại xảy ra vụ Lê Duy Hoán mưu phục hưng nhà Lê và bị bắt; Hoán khai rằng do Thuyên xúi giục. Vì vậy, cha con Nguyễn Văn Thành bị bắt giam và xử tội chết; Nguyễn Văn Thành không kêu oan, uất ức uống thuốc độc tự vẫn.
Vũ Trinh bị cho là có liên quan nên bị cách hết chức tước và giam vào ngục. Có người khuyên ông nên noi theo Nguyễn Văn Thành, nhưng ông đáp: “Nếu có tội với triều đình thì vươn cổ chịu chém; còn không có tội thì việc gì phải tự hại thân mình để mang tiếng xấu”. Ngay năm sau, ông được giảm án tử, bị đưa đi an trí tại Quảng Nam.
Tại nơi lưu đày, Vũ Trinh chuyên lo giảng sách cho học trò, lấy văn chương sách vở làm vui, kể như an phận chứ không tỏ rõ uất hận gì. Ông mở lớp dạy học, giảng sách, lấy văn chương làm thú vui, sống ẩn nhẫn giữ mình. Tại đây, ông giảng dạy để tự túc, người theo học rất đông, có hơn 10 học trò thi đậu.
Nhà thờ Tiến sĩ Vũ Miên – ông nội danh sĩ Vũ Trinh tại Bắc Ninh.
12 năm sau, khi vua Minh Mạng tuần du đến Quảng Nam, Vũ Trinh sai con dâng biểu xin được trở về quê. Lúc này ông đã già yếu, nên được chấp thuận. Các học trò xin ông lưu lại và lập đền thờ ngay khi ông còn sống. Tuy nhiên, sau khi về quê không lâu, ông qua đời vào năm 1828, hưởng thọ 70 tuổi.
Sách “Đại Nam liệt truyện” nhận xét rằng Vũ Trinh là người học vấn sâu rộng, văn chương điển nhã; buổi đầu triều Gia Long, phần lớn các chiếu, chế, văn thư quan trọng đều do một tay ông chấp bút. Tác phẩm của ông để lại có “Sứ Yên thi tập”, “Cung oán thi tập” và “Lan Trì kiến văn lục” được lưu hành rộng rãi trong đời.
Danh sĩ Ngô Thì Hoàng thuộc Ngô gia văn phái, cũng đánh giá Vũ Trinh vốn ôm hoài bão kinh bang tế thế, nhưng gặp thời thế éo le nên phải ẩn mình nơi thôn dã; tuy vậy, ông vẫn là người có học vấn uyên thâm, tích tụ sâu sắc.
Học trò Trần Danh Lưu ca ngợi thầy mình là người uyên bác, tầm nhìn rộng lớn, đọc thông kinh sử, bách gia. Sau biến động thời cuộc, ông lui về chốn điền viên, thỉnh thoảng dùng bút mực ghi chép những điều tai nghe mắt thấy thành sách. Văn chương của ông khi phát lộ thì rực rỡ như “long phượng giữa hồ”, khi ẩn tàng lại thanh thoát như “dáng núi trời thu”, được lưu truyền khắp nơi.
Cống sĩ Nguyễn Tạo, trong khi bàn về “Lan Trì kiến văn lục” cũng nhận xét rằng: văn pháp của Vũ Trinh mạch lạc, xác thực, không phù hoa, không cầu kỳ, thể hiện bút lực của một cây bút từng trải, đáng kính trọng.
Theo giai thoại, Vũ Trinh là người đầu tiên được Nguyễn Du nhờ đọc duyệt và bình “Truyện Kiều” khi tác phẩm còn ở dạng bản thảo; những lời bình của ông được viết bằng chữ Hán, dùng mực đen. Đáng chú ý, câu thơ “Nợ tình chưa trả cho ai/ Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan” trong “Truyện Kiều” được cho là vay mượn điển tích từ truyện “Thanh Trì tình trái” trong “Lan Trì kiến văn lục” của Vũ Trinh.
Theo các nguồn sử liệu, phu nhân của Vũ Trinh là bà Nguyễn Thị Diên - con gái Đại tư đồ, Tham tụng Nguyễn Nghiễm và bà Trần Thị Tần, đồng thời là chị ruột của thi hào Nguyễn Du. Cũng như dòng họ Vũ của Vũ Trinh, họ Nguyễn ở Tiên Điền là một vọng tộc khoa bảng, có nhiều người đỗ đạt và giữ chức vụ cao trong triều, vì vậy hai gia đình được xem là môn đăng hộ đối. Bên cạnh đó, Vũ Trinh còn có quan hệ thông gia với danh sĩ Ngô Thì Hoàng thuộc dòng họ Ngô Thì danh tiếng ở Tả Thanh Oai (Hà Nội).
Trần Siêu