Chuyện tình nửa thế kỷ giữa nữ quân y và người lính đặc công

Chuyện tình nửa thế kỷ giữa nữ quân y và người lính đặc công
3 giờ trướcBài gốc
“Trọn lời hứa của chúng mình”
Trong căn nhà nhỏ ở khối phố Ngân Châu (phường Điện Bàn Đông, TP Đà Nẵng), hình ảnh bà Cao Thị Hoa (78 tuổi) lặng lẽ xoa bóp đôi chân “khiếm khuyết” của chồng là cựu đặc công Huỳnh Đức Nữa (75 tuổi) đã trở nên quen thuộc. Thỉnh thoảng, tiếng ông rên khẽ vì vết thương cũ tái phát lại khiến bà thêm xót xa, nhưng đôi mắt bà vẫn ánh lên niềm hạnh phúc.
Sinh ra ở Điện Ngọc, năm 1964, khi mới 14 tuổi, Huỳnh Đức Nữa đã gia nhập lực lượng du kích. Ba năm sau, ông là chiến sĩ Đại đội Đặc công biệt động quận 3 - Đà Nẵng, nhiều lần đối diện sinh tử và ba lần được phong tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.
Năm 1972, trong một lần ra miền Bắc chữa sốt rét, định mệnh đã cho ông gặp cô y tá trẻ Cao Thị Hoa. Chung lý tưởng, lại cùng đồng hương Duy Xuyên (Quảng Nam cũ) họ nhanh chóng tìm thấy sự đồng điệu trong tâm hồn. Những cuộc trò chuyện ngắn ngủi nơi trạm xá đã gieo mầm cho một tình yêu bền chặt.
Đầu năm 1974, trước khi trở lại chiến trường Thượng Đức, Nông Sơn, ông đã tìm về nhà người yêu để tạm biệt. Khoảnh khắc chia ly ấy, giữa họ đã có một lời hứa, một lời thề: “Anh nói với em, chỉ trừ khi kẻ thù cướp đi tính mạng, chúng mình mới xa nhau. Nếu một trong hai người không may hi sinh, khi đất nước im tiếng súng người còn sống hãy đến phần mộ thắp nén nhang… Còn nếu cả hai còn sống, dù kẻ Nam, người Bắc cũng nhất định phải tìm nhau. Nhớ em nhé”. Lời thề hôm ấy đã trở thành sợi dây vô hình níu giữ hai trái tim trong suốt những năm tháng chia xa.
Nhưng chiến tranh khốc liệt đã cướp đi đôi chân của ông. Đêm 10/3/1975, tại chiến trường Phước Lâm (huyện Tiên Phước, Quảng Nam cũ), một quả mìn nổ tung khiến ông Nữa phải cưa cụt cả hai chân. Tin dữ được báo về nhưng bà Hoa đang bận phục vụ chiến dịch, không thể đến thăm, chỉ biết đau đáu, lo lắng.
Sau ngày thống nhất, bà Hoa rong ruổi khắp các bệnh viện miền Trung, thậm chí đạp xe gần 50km tìm về Điện Ngọc hỏi thăm gia đình ông, nhưng chỉ nhận được câu trả lời bặt vô âm tín: “Anh Nữa đã được chuyển ra Bắc, không rõ sống chết ra sao”.
Ở nơi xa, ông Nữa cũng giằng xé với mặc cảm thương tật. Ông viết thư cho người yêu: “Ngày trước anh hứa trọn vẹn, nhưng bây giờ vì đất nước anh đã không còn bước tiếp được nữa, mong em sẽ tìm một hạnh phúc mới. Trước đây, khi còn đôi chân, anh sẽ gánh vác mọi công việc để người bạn đời của anh đỡ vất vả nhưng giờ anh không còn đôi chân nữa nên không muốn em khổ vì anh”.
Lá thư ấy không chỉ là sự dằn vặt, mà còn là nỗi đau của một người đàn ông muốn giải thoát cho người phụ nữ vì biết khó có thể mang lại hạnh phúc trọn vẹn cho người yêu của mình. Đọc lá thư, bà Hoa hiểu rõ và lại càng thôi thúc bà thêm quyết tâm phải gặp ông bằng được. Bỏ qua bao lời mai mối, tán tỉnh, bà hồi âm ngắn gọn mà đầy sức nặng, dù ông Nữa còn bước đi được nữa hay không, bà vẫn giữ trọn lời hứa. Quãng đời còn lại, bà nguyện làm đôi chân của ông.
Gian nan, hạnh phúc và niềm an ủi tuổi già
Cuối năm 1976, sau bao gian nan, họ chính thức thành vợ chồng trong một đám cưới giản dị có đồng đội, người thân chứng kiến. Không mâm cao cỗ đầy, không áo cưới lộng lẫy, nhưng đó là ngày hạnh phúc nhất của hai con người từng ở lằn ranh sống chết.
Huân chương Kháng chiến hạng Nhất - phần thưởng cao quý dành cho vợ chồng cựu chiến binh. (Ảnh trong bài: P.V)
Sau hôn nhân, cuộc sống đầy thử thách. Thương binh 1/4, ông Nữa không thể lao động nặng nhọc, mọi gánh nặng cơm áo dồn lên vai bà Hoa. Nhưng bà chưa từng than vãn. Trên chiếc xe lăn cũ, ông vẫn gắng gượng chở con đi học, để vợ bớt vất vả. Năm 1986, căn nhà cấp 4 được chính quyền hỗ trợ trở thành chốn đi về của gia đình, nơi lưu giữ cả tiếng cười lẫn nước mắt.
Nhưng niềm hạnh phúc chẳng bao lâu lại bị thử thách, người con trai duy nhất của ông bà bị nhiễm chất độc da cam, thường xuyên đau ốm, con dâu bỏ đi, để lại hai con nhỏ. Ở tuổi xế chiều, đôi vợ chồng già lại gồng mình nuôi dạy cháu. “Có lúc tưởng chừng không gượng nổi, nhưng nhìn hai đứa cháu thơ dại, chúng tôi tự nhủ phải cố gắng. Đã đi qua chiến tranh, bom đạn cũng không khuất phục được, thì gian khó đời thường càng không thể quật ngã mình”, bà Hoa chia sẻ.
Nhờ sự tần tảo và kiên cường, hai cháu nội của ông bà nay đã trưởng thành, một đang học đại học, một theo nghề đầu bếp. Đó là niềm an ủi lớn nhất của đôi vợ chồng cựu chiến binh.
Không chỉ lo cho gia đình, ông Nữa và bà Hoa còn cống hiến cho cộng đồng. Bà nhiều năm làm Chi hội trưởng Hội Phụ nữ khối phố, còn ông là Chi hội phó Cựu chiến binh, miệt mài quy tập hài cốt đồng đội, phát giấy mời sinh hoạt dù phải lái xe ba bánh.
Hơn nửa thế kỷ đi qua, hai người đều đã hơn 50 năm tuổi Đảng. Những tấm Huân chương, Huy chương, Bằng khen trên vách nhà vừa minh chứng cho cống hiến, vừa là biểu tượng của một tình yêu son sắt. Với bà con lối xóm, họ như “ngọn lửa nhỏ” ấm áp, bền bỉ, soi sáng tinh thần “thương binh tàn nhưng không phế”. “Nhìn lại chặng đường đã qua, so với nhiều đồng đội đã hy sinh, tôi thấy mình may mắn lắm. May mắn vì còn sống, may mắn vì tìm được người vợ thủy chung trọn đời”, ông Nữa xúc động.
Ở Đà Nẵng cho đến nay, hễ nhắc đến ông Nữa và bà Hoa, nhiều người không khỏi tấm tắc. Từ lời thề giữa bom đạn đến mái ấm tuổi già, câu chuyện của ông bà không chỉ là bản tình ca thủy chung, mà còn minh chứng cho sức mạnh tình yêu, lý tưởng và niềm tin vào những điều tốt đẹp giữa cuộc đời.
Anh Huy
Nguồn Pháp Luật VN : https://baophapluat.vn/chuyen-tinh-nua-the-ky-giua-nu-quan-y-va-nguoi-linh-dac-cong.html