Về chuyện này, ta bàn sau, trước hết dám nói rằng về săn bắt cá thì câu cá giăng câu ngoài thú vui còn là sinh kế nữa. Muốn được thế, không riêng gì câu cá nhiều ngành nghề khác cũng đòi hỏi đôi mắt phải tinh tường. Thế nhưng cũng có ngoại lệ như trường hợp nhà văn Sơn Nam kể trong truyện ngắn “Người mù giăng câu”:
“Có người chất vấn: Ðã mù sao còn giăng câu được?
Ông đáp:
- Mù lòa là mắt không thấy, chớ nào phải vô tri vô giác? Con người có thể thấy bằng lỗ tai, bằng hai bàn tay, bằng mũi... Nghe hát máy, thiên hạ đâu dùng cặp mắt mà vẫn hiểu thấy được cảnh ly biệt, cảnh giặc giã trong vở tuồng! Ban đêm, nằm nhà đóng cửa lại, tắt đèn nhưng thiên hạ vẫn thấy hiển hiện cảnh ngoài trời: ếch nhái kêu, tàu chuối phất phơ, chó sủa ma hay sủa kẻ trộm. Người ta thường nói: xanh mát, đỏ hực. Mát, là màu xanh, màu đen. Nóng, là màu vàng, màu đỏ. Bần hàn, là nghèo lạnh. Vô nhà nào mà mình có cảm giác lạnh lẽo, đó là nhà nghèo. Gặp người bạn, rờ lên vai áo thấy rách, chắc là người ấy đang suy sụp... nghèo rã bành-tô.
Ði lâu, là đường dài. Ði mau là đường ngắn. Tôi thường bơi xuồng đến tiệm mua đồ một mình. Trong kinh nhỏ có bông súng cản mái dầm, khó bơi. Tới ngã ba, khúc quẹo, là chỗ nghe tiếng con sáo, con cưỡng ăn trái trên cây gừa bên miễu ông Tà. Gần mương vàm, hơi xông nồng nực, hôi tanh vì nước ít lưu thông. Chưa tới tiệm, có cầu ván bắc ngang. Chân cầu lớn lắm, tôi thấy nhột nhột màng tang, vì sợ đụng. Người mù có thể vá quần áo. Lại còn nấu cơm, nghe tiếng củi nổ, nghe hơi nước nóng biết cơm sôi, cơm khét... Tóm lại, thiếu cặp mắt vẫn còn sống được! Người ta có đủ cột kèo thì cất nhà lớn, đúng ni tấc. Mình đây đui mù, như thiếu cây cột cái, nhưng nếu khéo léo một chút cũng cất được mái nhà nhỏ che gió che mưa... hà huống là việc giăng câu!
Giăng câu lúc ban đêm, cặp mắt không cần thiết. Người không mù, họ đốt lửa trước xuồng un muỗi cho vui mắt, ấm lòng, chớ nào phải soi đường đi. Ðó là chưa nói tới loài cá! Nó ở dưới nước, núp trong cỏ, người có mắt cũng y như tôi, làm sao thấy cá được. Phải dùng óc xét đoán để hiểu tánh ý của nó, nhờ đó mình mới giăng được nhiều cá, ngày càng vui thú với nghề nghiệp của mình”.
Cá chép trong tranh dân gian (Ảnh: Tư liệu).
Bái phục cho ông già mù, lý lẽ đâu ra đó, nghe/ đọc đến đâu thấy “sướng” đến đó. Vậy, đang có cảm hứng, ta hãy thử bàn về từ gột/ gột cá giống xem sao.
Như ta đã biết tục ngữ có câu: “Có bột mới gột nên hồ”, hiểu qua nghĩa bóng là muốn được cái này cần phải có điều kiện kia. Ở đây gột có nghĩa làm nên - phản ánh công việc nấu loãng bột gạo để trở thành thứ nước dính sềnh sệch dùng để dán, ta gọi là hồ. Chẳng hạn, lúc nghĩ ra câu đối ưng ý, ông Tú Xương: “Viết vào giấy dán ngay lên cột”, là ông đã dùng hồ. Ở đời có cái lẽ thường tình như “Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ” thì đúng là “ăn” thứ hồ này. Thế nhưng người đang bệnh không thể nhai chất đặc, cứng phải húp cháo loãng quấy bằng bột dù cũng gọi là hồ nhưng tính chất khác nhau.
Dùng để dán, không chỉ hồ, còn có keo nhưng keo lại nấu bằng da trâu, bò. Hồ và keo đều là chất dính, thế nhưng khi kết hợp để hiểu theo nghĩa gắn bó bền chặt, tình cảm thân mật, khăng khít, không thể chia lìa, người ta lại nói “keo sơn”, chứ không nói hồ keo/ keo hồ. Sơn là một loại nhựa lấy từ cây sơn, gọi là sơn ta, nhiều người không hợp, dính vào là lở hết da gây ngứa ngáy khó chịu, thường gọi sơn ăn. Tục ngữ có câu “Sơn ăn tùy mặt, ma bắt tùy người” thì “ăn” hiểu theo nghĩa này.
Tuy nhiên, hồ còn là từ chung chỉ chất trung gian nhằm kết dính vật gì đó lại với nhau như gạch, đá… bằng cách trộn xi măng hoặc vôi với cát, nước để thành vữa thì chính nó cũng gọi là hồ. Do đó, người làm nghề xây dựng được gọi thợ hồ là gọi theo vật liệu mà họ sử dụng; hoặc gọi thợ nề là gọi theo công việc: “Trát vôi để xây rồi xoa cho nhẵn” (“Việt Nam tự điển”, 1931). Muốn xây tường ắt phải có hồ, thế nhưng đến nay một bí mật chưa thể lý giải vì sao tháp Chăm lại không có mạch vữa, bí quyết của kỹ thuật đó là gì? Hồ làm ra bằng cách nấu loãng bột gạo nhưng một khi đã quá đát do đó hư, nát, mất chất dẻo, không còn quánh thì người ta lại gọi “hồ vữa”, dù xét về tính chất thì hồ cũng như vữa.
Thật ra không phải, vữa này chính là rữa, tùy theo trường hợp mà có cách sử dụng từ khác dù cùng tính chất, thí dụ trứng gà rữa, hoa tàn nhụy rữa.., nhưng lại là thịt đông vữa, cháo vữa v.v… Khi nhà thơ Xuân Diệu viết: “Hơn một loài hoa đã rụng cánh/ Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh”. Rũa chính là rữa hiểu theo nghĩa nêu trên, là bông hoa ấy đã vữa nên “rụng cành”, rồi sắc đỏ của nó đã ngã qua màu xanh; cây trong vườn cũng thay đổi, chỉ còn “Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh” nhằm khắc họa cho lúc “Đây mùa thu tới”. Đúng là “thi trung hữu họa”
Đọc “Truyện Kiều”, ta biết cơn cớ khiến mụ Tú Bà “nổi cơn tam bành” là khi nàng tự thú mình đã bị Mã Giám Sinh “xơi tái”, điên tiết lên, mụ thét:
Màu hồ đã mất đi rồi
Ôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma
Vậy màu hồ là là màu gì? Để trả lời, trước hết ta cần biết các từ như “Lụa hồ: Lụa nhờ nước hồ làm cho đầy đặn; hàng hồ: Hàng lụa tráng nước hồ; hồ áo: Dùng nước hồ mà đánh cái áo cho thẳng, khỏi bị nhầu”- theo “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895)... Với giải thích này, ta hiểu không chỉ hàng xấu, kém chất lượng mà ngay cả hàng tốt, người ta cũng dùng hồ bồi/ vã vào để hàng tơ lụa đó được mịn, cứng cáp, thẳng thớm, bóng mặt. Khi tấm lụa ấy còn hồ/ màu hồ tức là lụa còn mới toanh, chưa sử dụng, từ đó, dùng để chỉ sự thanh tân của người con gái. Do rất hiểu màu hồ theo nghĩa bóng đó, nhà thơ Nguyễn Bính mới ví von:
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa
Bán ở đây là gả bán, nói như khẩu ngữ quen thuộc ở ngoài Bắc của thời tác giả “Lỡ bước sang ngang” là cô gái ấy chưa “ăn trầu”, là chưa có người dặm hỏi, chưa lên xe hoa, là “Hãy còn xuân/ Trong trắng thân chưa lấm bụi trần”, nói cách khác màu hồ của cô gái ấy vẫn còn nguyên vẹn.
Khi chúng ta bàn về từ “hồ” trong câu tục ngữ “Có bột mới gột nên hồ” còn nhằm hiểu rõ hơn về từ gột. Qua đó, ta cũng biết rằng gột còn đèo bòng thêm nghĩa khác nữa, chứ không chỉ hiểu theo nghĩa làm nên. Thí dụ, bộ đồ vía mới toanh để dành mặc đi ăn đám cưới, lại có chút vết bẩn bám ở tay áo, chẳng lẽ giặt cả cái áo? Không, chỉ cần gột vết bẩn ấy là xong, tức là chỉ vò làm sạch mỗi chỗ bẩn đó. Từ gột này, trong Nam còn dùng từ tương tự là “gụt”, sách “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) ghi nhận: “Gụt rửa, gụt sạch, gụt đầu/ gội đầu, gụt áo”.
Rõ ràng, nghĩa của từ gột trong những ngữ cảnh vừa nêu không thể giải thích cho câu “gột cá giống”. Vậy gột là gì? Trước hết, ta nhớ đến câu tục ngữ “Thật thà như đếm cá giống”. Họ đếm như thật thà đến mức nào?
Trong tập sách “Người Việt nói tiếng Việt” (NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh - 2023), nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Thọ cho biết: “Mẹ tôi kể bà từng chứng kiến một người hàng xóm mua cá giống để thả ao. Người bán cá giống vừa đếm cá vừa liến thoắng: ''Hai mươi, hai mốt, con này tốt, bốn mốt bốn hai" rồi đếm đúng, để chỉ một lát sau: "năm nay được mùa, lúa tốt cau sai, sáu hai, sáu ba"... Mỗi lần liến thoắng là lại đếm gian vài con số. Trong mắt người dân quê, người bán cá giống được mặc định là người gian trá và câu thành ngữ “Thật thà như đếm cá giống” thực ra là một lời mỉa mai, thể hiện sự bất tín” (tr.155).
Vậy, cái sự “thật thà” này, không khác gì “Thật thà như thể lái trâu”!
Muốn có cá giống thì phải đi vớt, thường là vào tháng Tư âm lịch nước đầu nguồn đổ về đồng bằng, gọi là “lũ tiểu mãn”, trong bọt nước nổi lên trên của dòng chảy xiết này có rất vô số hạt trứng cá bé xíu của nhiều loại cá kết thành dây, người làm nghề bán cá giống dùng vợt để vớt lấy đem về ươm. Công việc này kéo dài đến khoảng tháng Bảy âm lịch, còn thể hiện qua câu “Trống canh giành bạc”, tức là phải tranh thủ, chạy đua với thời gian tới mức tối đa; lại có câu đúc kết kinh nghiệm: “Đến ngày giỗ bố cũng không bỏ nước cá mồng 5” vì đây là thời điểm vớt cá tốt nhất.
Vớt được trứng cá, họ thả vào ao ươm để chăm, sau khi cá đã lớn cỡ đầu tăm hoặc nhỉnh hơn là họ thả vào thùng con gánh đi bán, còn gọi “bán cá rong con”. Khi gánh thùng cá giống đi bán, họ vừa đi thỉnh thoảng vừa lắc thúng tạo không khí cho cá con thở, nếu không chúng sẽ chết.
Lướt qua đôi dòng của nghề nuôi cá giống, nghe đơn giản nhưng tất cả là công đoạn nhọc nhằn thể hiện bí kíp gia truyền, nghệ thuật tinh tế, tay nghề cao đã đạt đến mức hoàn hảo. Từ chỗ vớt trứng cá giống, thả nuôi ở ao ươm đến lúc gánh đi bán gọi là “gột”. Xét ra, “gột” là từ của bà con miền Bắc, nói như thế dù có thể chủ quan nhưng rõ ràng là ta không tìm thấy từ điển trong Nam ghi nhận từ “gột” theo nghĩa này.
Lê Minh Quốc