Cổ đông lớn của VIB tăng sở hữu lên hơn 8,4%

Cổ đông lớn của VIB tăng sở hữu lên hơn 8,4%
3 giờ trướcBài gốc
Sơ đồ giá cổ phiếu VIB trên TradingView.
CTCP UNICAP báo cáo về thay đổi sở hữu của cổ đông lớn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam (mã VIB-HOSE).
Theo đó, ngày 21/05, CTCP Unicap đã mua gần 31.8 triệu cổ phiếu VIB, trong khi đó người có liên quan đến Unicap bán hơn 1,11 triệu cổ phiếu. Qua đó, tỷ lệ sở hữu của Unicap từ hơn 117,8 triệu cổ phiếu, chiếm 3,46% lên 149,55 triệu cổ phiếu, chiếm 4,393% vốn tại VIB.
Số lượng cổ phiếu người có liên quan đang sở hữu gần 136,5 triệu cổ phiếu, chiếm 4,01% và tỷ lệ sở hữu tổng nhóm có liên quan hơn 286 triệu cổ phiếu, chiếm 8,403% vốn tại VIB.
Chốt phiên ngày 21/5, giá cổ phiếu VIB là 15.900 đồng/cổ phiếu, ước tính Unicap đã chi hơn 505 tỷ đồng để sở hữu số cổ phiếu trên.
Trước đó 1 tháng, ngày 21/04/2026, Unicap cũng đã mua vào 16,82 triệu cổ phiếu VIB, trong khi người có liên quan mua vào 7,95 triệu cổ phiếu và bán ra hơn 2,13 triệu cổ phiếu VIB. Qua đó, tỷ lệ sở hữu của Unicap nâng từ mức 100,965 triệu cổ phiếu, chiếm 2,966% lên hơn 117,79 triệu cổ phiếu, chiếm 3,46% vốn tại VIB. Số lượng của người có liên quan nắm giữ là 137,6 triệu cổ phiếu, chiếm 4,043% và tổng nhóm người có liên quan và Unicap sở hữu 255,39 triệu cổ phiếu, chiếm 7,503% vốn tại VIB.
Được biết VIB đã chốt ngày thanh toán cổ tức năm 2025 bằng tiền với tỷ lệ 9% (1 cổ phiếu nhận 900 đồng). Nguồn chi trả cổ tức từ lợi nhuận còn lại sau trích lập các quỹ với số tiền 3,063 tỷ đồng. Ngày chốt danh sách nhận cổ tức là 04/05 và ngày chi trả là 03/06 tới.
Đồng thời, HĐQT VIB có nghị quyết phê duyệt triển khai và thực hiện phương án phát hành thêm hơn 323 triệu cổ phiếu, tương đương tỷ lệ 9,5%, cho cổ đông hiện hữu và phát hành 8 triệu cổ phiếu ESOP, tỷ lệ 0,24%, cho người lao động. Nguồn sử dụng để tăng vốn điều lệ gồm lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế (2.518 tỷ) và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ căn cứ trên báo cáo tài chính năm 2025 đã được kiểm toán (gần 716 tỷ đồng).
Nếu phát hành thành công, vốn điều lệ của VIB sẽ tăng từ 34.040 tỷ đồng lên gần 37.354 tỷ đồng. Thời gian thực hiện trong quý 2-3/2026.
Được biết, VIB đã công bố kết quả kinh doanh quý 1/2026, với thu nhập từ HĐKD (TOI) đạt 5,86 nghìn tỷ đồng (+27,4% so với cùng kỳ năm trước) và lợi nhuận trước thuế đạt 2,8 nghìn tỷ đồng (+15,8% so với cùng kỳ năm trước), lần lượt hoàn thành 24% và 23% dự báo cả năm của VCSC.
Như vậy, so với quý trước, TOI và lợi nhuận trước thuế quý 1/2026 tăng lần lượt 11% và 36,2%. Nhìn chung, kết quả kinh doanh quý 1/2026 của VIB rất khả quan về thu nhập ngoài lãi (NOII) và tối ưu hóa chi phí hoạt động (OPEX). Tuy nhiên, với NIM liên tục giảm và tăng trưởng tín dụng yếu, trong khi phần lớn thu nhập ròng từ phí (NFI) đến từ khoản thu nhập phí một lần từ mảng thẻ, kết quả của VIB đặt ra rủi ro giảm đối với dự báo lợi nhuận của VCSC.
Tăng trưởng tín dụng quý 1/2026 đạt 1,1%, thấp hơn mức tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống là 3,18%. Phân khúc khách hàng doanh nghiệp tiếp tục là động lực tăng trưởng chính (+7,2% so với cùng kỳ quý trước trong quý 1/2026) trong khi tăng trưởng phân khúc bán lẻ ở mức -1,5% so với cùng kỳ quý trước. Trong phân khúc doanh nghiệp, các khoản vay dịch vụ tài chính tiếp tục đạt kết quả khả quan so với các ngành khác với mức tăng 7,2% so với cùng kỳ quý trước và dư nợ cho vay các nhà phát triển bất động sản cũng tăng đáng kể (+13,8% so với cùng kỳ quý trước), chiếm 2/3 mức tăng trưởng tín dụng của VIB trong ba tháng đầu năm.
Tăng trưởng tiền gửi khách hàng quý 1/2026 đạt mức cao 7,4%, trong khi tổng tăng trưởng nguồn vốn (bao gồm tiền gửi khách hàng và giấy tờ có giá) là 6,5%. Đáng chú ý, sau khi giảm đáng kể vào quý 4/2025, số dư tiền gửi khách hàng của ngân hàng đã quay trở lại với mức tăng mạnh ở cả khách hàng bán lẻ và doanh nghiệp (lần lượt +3,3% so với cùng kỳ quý trước và +15% so với cùng kỳ quý trước). Ngoài ra, tỷ lệ CASA quý 1/2026 của VIB giảm 43 điểm cơ bản so với cùng kỳ quý trước xuống 14,2%.
NIM quý 1/2026 của VIB tiếp tục giảm 11 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước xuống mức 2,94%, thấp hơn kỳ vọng của VCSC là 3,33% cho năm 2026. Sau ba quý liên tiếp NIM ổn định (quý 2/2025 đến quý 4/2025), NIM của ngân hàng lại chứng kiến mức giảm 17 điểm cơ bản so với cùng kỳ quý trước trong quý 1/2026. Nguyên nhân chính dẫn đến sự thu hẹp NIM quý này đến từ chi phí vốn (COF) tăng mạnh 40 điểm cơ bản so với cùng kỳ quý trước, là kết quả của việc đưa ra lãi suất cao để thu hút khách hàng, và tăng trưởng tín dụng chậm lại bất chấp tăng trưởng nguồn vốn mạnh. Ngược lại, lợi suất tài sản sinh lãi (YEA) không đủ bù đắp với mức tăng chỉ 22 điểm cơ bản so với cùng kỳ quý trước. Theo đó, thu nhập lãi thuần (NII) chỉ đạt 4,04 nghìn tỷ đồng (+8,1% so với cùng kỳ năm trước), thấp hơn 4,4% so với quý 4/2025 mặc dù dư nợ tín dụng cao hơn.
NOII quý 1/2026 đạt 1,8 nghìn tỷ đồng (+110,8% so với cùng kỳ năm trước). Sự gia tăng mạnh mẽ của NOII đến hoàn toàn từ khoản thu nhập một lần từ phí thẻ (riêng phí thẻ thuần quý 1/2026 đạt 1,9 nghìn tỷ đồng, cao gấp 6 lần quý 1/2025), bù đắp cho khoản lỗ trong hoạt động kinh doanh ngoại hối và đầu tư.
Chất lượng tài sản tiếp tục ổn định trong quý 1/2026. Cụ thể, tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ 3 điểm cơ bản so với cùng kỳ quý trước và 85 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước xuống 2,94%. Tỷ lệ nợ nhóm 2 trên tổng dư nợ cho vay tăng nhẹ trở lại 16 điểm cơ bản so với cùng kỳ quý trước lên 2,55%. Kể từ quý 2/2025, ngân hàng đã duy trì mức trích lập dự phòng tương đối với tỷ lệ chi phí tín dụng khoảng 1,3%. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) vẫn duy trì ổn định ở mức 43,1% (+2 điểm cơ bản so với cùng kỳ quý trước), một sự cải thiện lớn so với mức chỉ 31,0% trong quý 1/2025 nhờ cả việc tỷ lệ nợ xấu giảm và tăng cường bộ đệm dự phòng. Tuy nhiên, VCSC lưu ý rằng tỷ lệ LLR này vẫn ở mức thấp so với các ngân hàng cùng ngành.
Tỷ lệ chi phí/thu nhập (CIR) quý 1/2026 giảm mạnh xuống 31,6%, cải thiện 6,62 điểm % so với cùng kỳ năm ngoái. Sự cải thiện này của CIR chủ yếu nhờ TOI tăng mạnh và việc cắt giảm lương nhân viên do các quy trình số hóa.
Về tỷ lệ an toàn theo quy định của cơ quan quản lý, hệ số an toàn vốn (CAR) theo phương pháp tiêu chuẩn Basel III vượt 12%, vượt đáng kể ngưỡng tối thiểu do NHN thiết lập. Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi (LDR) ở mức 78%, trong khi tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn là 25%. Ngoài ra, tỷ lệ dư nợ tín dụng ổn định ròng (NFSR) đạt 105%, vượt tiêu chuẩn Basel III là trên 100%.
Hà Anh
Nguồn VnEconomy : https://vneconomy.vn/co-dong-lon-cua-vib-tang-so-huu-len-hon-84.htm