Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Gia Lai có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Văn Hoan - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường về những giải pháp và lộ trình thích ứng của tỉnh đối với quy định này.
* Thưa ông, tỉnh Gia Lai đang đối mặt với những khó khăn gì khi triển khai EUDR, đặc biệt đối với 3 ngành hàng chủ lực là gỗ, cao su và cà phê?
Ông Nguyễn Văn Hoan. Ảnh: N.N
- Gia Lai có diện tích cà phê, cao su và rừng sản xuất lớn, đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu.
Tuy nhiên, khi đối chiếu với các yêu cầu của EUDR, tỉnh đang gặp 3 nhóm thách thức chính.
Thứ nhất là yêu cầu về dữ liệu và định vị địa lý (geolocation). EUDR đòi hỏi truy xuất nguồn gốc đến từng lô đất. Trong khi đó, hoạt động sản xuất nông nghiệp của tỉnh chủ yếu do hàng trăm nghìn hộ nhỏ lẻ đảm nhiệm.
Việc thu thập tọa độ GPS và số hóa bản đồ cho từng thửa đất đòi hỏi nguồn lực lớn và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị liên quan.
Thứ hai là vấn đề xác định ranh giới rừng theo mốc thời gian ngày 31-12-2020. Theo quy định, tỉnh phải chứng minh sản phẩm không có nguồn gốc từ đất phá rừng hoặc suy thoái rừng sau thời điểm này. Tuy nhiên, tại một số địa phương, dữ liệu bản đồ lâm nghiệp và địa chính chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc đối chiếu, xác nhận.
Thứ ba là áp lực đối với chuỗi cung ứng. Ngành cà phê có nhiều tầng nấc trung gian, khiến thông tin từ vườn đến nhà máy chế biến dễ bị đứt gãy.
Với cao su và gỗ, các yêu cầu về tính hợp pháp và chứng chỉ bền vững buộc doanh nghiệp (DN) phải điều chỉnh hệ thống quản trị, làm gia tăng chi phí trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.
* Trước những yêu cầu đó, tỉnh đã triển khai những giải pháp gì để hỗ trợ DN, hợp tác xã (HTX) và nông hộ, thưa ông?
- Tỉnh đã thành lập Tổ công tác công tư triển khai EUDR, do Sở Nông nghiệp và Môi trường làm cơ quan thường trực. Tổ công tác có nhiệm vụ tiếp nhận, tổng hợp các vướng mắc; hướng dẫn kỹ thuật và tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo xử lý kịp thời.
Đồng thời, cơ chế đối thoại định kỳ giữa cơ quan quản lý, hiệp hội, DN và HTX cũng được duy trì nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn ngay từ cơ sở.
Cùng với đó, tỉnh tập trung rà soát, chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng và rừng trồng; cập nhật bản đồ địa chính, bản đồ rừng; hỗ trợ xác định ranh giới và tọa độ theo yêu cầu.
Đối với những diện tích còn thiếu dữ liệu số, các đơn vị được hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ pháp lý đất đai và thông tin không gian. Mục tiêu là xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp cấp tỉnh về rừng và vùng nguyên liệu, làm nền tảng cho việc truy xuất nguồn gốc minh bạch.
Tỉnh cũng hướng dẫn DN thiết lập quy trình thu thập thông tin chuỗi cung ứng, đánh giá và giảm thiểu rủi ro; đồng thời, khuyến khích ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng nguyên liệu.
Đối với HTX và nông hộ, các lớp tập huấn được tổ chức nhằm nâng cao kỹ năng ghi chép nhật ký sản xuất, lưu giữ hồ sơ đất đai, hợp đồng liên kết, hóa đơn, chứng từ… Qua đó, hình thành thói quen sản xuất có minh chứng.
Giải pháp căn cơ là thúc đẩy liên kết chuỗi và tổ chức lại sản xuất. Tỉnh khuyến khích DN ký hợp đồng bao tiêu, hợp tác dài hạn với HTX để xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, bảo đảm kiểm soát thông tin truy xuất nguồn gốc và giảm áp lực cho các hộ sản xuất nhỏ lẻ.
Trên cơ sở dữ liệu cập nhật, tỉnh sẽ phân loại vùng theo mức độ nguy cơ liên quan đến mất rừng, ưu tiên hoàn thiện hồ sơ đối với vùng nguy cơ thấp, đồng thời xây dựng lộ trình xử lý phù hợp với những vùng còn chồng lấn.
Tỉnh Gia Lai sẽ rà soát, chuẩn hóa dữ liệu rừng và vùng nguyên liệu, hỗ trợ doanh nghiệp thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc. Ảnh: Phan Tuấn
* Tỉnh đặt ra lộ trình thích ứng với EUDR như thế nào để vừa tuân thủ quy định, vừa duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu và nâng cao giá trị bền vững cho các mặt hàng gỗ, cao su, cà phê của địa phương?
- Tỉnh xác định EUDR không chỉ là yêu cầu tuân thủ của một thị trường mà còn là cơ hội để tái cấu trúc ngành nông - lâm nghiệp theo hướng minh bạch và bền vững. Lộ trình thích ứng được xây dựng theo 3 giai đoạn với mục tiêu “tuân thủ - ổn định - nâng tầm”.
Giai đoạn ngắn hạn tập trung hoàn thiện nền tảng tuân thủ: Rà soát, chuẩn hóa dữ liệu rừng và vùng nguyên liệu; hỗ trợ DN thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc; tăng cường tập huấn cho cán bộ cơ sở, HTX và nông hộ. Mục tiêu là bảo đảm hoạt động xuất khẩu sang thị trường EU không bị gián đoạn.
Giai đoạn trung hạn hướng đến ổn định chuỗi cung ứng và mở rộng vùng nguyên liệu bền vững. Tỉnh thúc đẩy liên kết DN - HTX - nông hộ; hình thành vùng nguyên liệu đáp ứng yêu cầu về pháp lý đất đai, định vị tọa độ và không gây mất rừng; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, tích hợp cơ sở dữ liệu để giảm chi phí tuân thủ.
Về dài hạn, tỉnh định vị thương hiệu vùng nguyên liệu “không mất rừng - minh bạch - trách nhiệm”; khuyến khích đầu tư chế biến sâu, nâng tỷ lệ sản phẩm tinh chế và phát triển các chứng chỉ bền vững. Khi đáp ứng được các tiêu chuẩn cao của EU, sản phẩm gỗ, cao su và cà phê của tỉnh sẽ gia tăng lợi thế cạnh tranh, qua đó duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu theo hướng bền vững.
* Xin cảm ơn ông!
NGỌC NGA