Khoảng cách giới trong toàn bộ chu trình từ đề cử đến bỏ phiếu
Nhiều nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng sự tham gia của phụ nữ vào chính trị không chỉ góp phần thúc đẩy bình đẳng giới mà còn nâng cao chất lượng quản trị, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và chú trọng hơn tới các chính sách xã hội. Tổ chức phụ nữ Liên hợp quốc UN Women năm 2020 cũng đã khẳng định mối liên hệ giữa sự hiện diện của phụ nữ trong cơ quan dân cử với hiệu quả quản trị và chất lượng chính sách.
Những quan điểm này cũng đồng thời được nhấn mạnh tại Hội thảo khoa học quốc tế “Tăng cường cơ hội trúng cử cho nữ ứng cử viên vào HĐND các cấp” tại Học viện Phụ nữ Việt Nam tháng 2/2026. GS.TS. Đặng Nguyên Anh - Nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam cho rằng, có thể ghi nhận những tiến bộ đáng kể trong chính trường Việt Nam. Đơn cử, tỷ lệ nữ đại biểu trong Quốc hội và HĐND các cấp tương đối cao so với nhiều quốc gia trong khu vực. Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có tỷ lệ phụ nữ tham chính cao trên thế giới; đứng thứ ba trong ASEAN; xếp hạng 47/187 về bình đẳng giới trong tham chính và 87/156 theo Chỉ số Thu hẹp Khoảng cách Giới.
Đồng tình, bà Vũ Thị Kim Liên - Đại biểu HĐND TP Hải Phòng nhiệm kỳ 2021 - 2026 cũng khẳng định thúc đẩy bình đẳng giới, tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong cơ quan dân cử có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đáng chú ý, nhiệm kỳ 2021 - 2026, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND các cấp có xu hướng tăng và đạt mức cao hơn so với nhiệm kỳ trước. Cụ thể, cấp tỉnh đạt 29% (tăng 2,44%); cấp quận/huyện đạt 29,08% (tăng 1,58%); cấp xã/phường đạt 28,98% (tăng 1,89%). Ở nhiều địa phương, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp xã/phường còn cao hơn cấp tỉnh/thành phố. Điều đáng chú ý, tỷ lệ nữ ứng cử viên chiếm trên 41,2%, song tỷ lệ trúng cử chỉ đạt gần 29%, cho thấy khoảng cách đáng kể giữa số lượng nữ đại biểu tham gia ứng cử và cơ hội trúng cử thực tế.
Như GS.TS. Đặng Nguyên Anh cho rằng, cần nhìn nhận thẳng thắn vào thực tiễn tồn tại khoảng cách nhất định giữa tỷ lệ tham gia và mức độ ảnh hưởng thực chất của nữ đại biểu đối với quá trình hoạch định và quyết định chính sách. Mặc dù, tỷ lệ nữ đại biểu tăng qua các nhiệm kỳ, trình độ học vấn cao trong khu vực châu Á cho thấy nỗ lực đáng ghi nhận nhưng khoảng cách giới đã bắt nguồn ngay từ trước khi bầu cử, cơ hội trúng cử và phân công lĩnh vực sau bầu cử. Đơn cử một thực tế là sự “giới hóa” trong phân công lĩnh vực. Không ít trường hợp, các nữ đại biểu thường được giao các mảng xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa - những lĩnh vực rất quan trọng nhưng ít gắn với quyền lực ngân sách, đầu tư, quy hoạch hay kinh tế. Tỷ lệ nữ giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt trong HĐND còn hạn chế so với tiềm năng.
Vậy từ ứng cử đến trúng cử, “sự đứt gãy” hay rào cản giới thực sự nằm ở đâu? GS.TS. Đặng Nguyên Anh nhận định rằng, cơ hội trúng cử của nữ ứng viên không phụ thuộc vào một khâu đơn lẻ, mà là kết quả của cả một chu trình kéo dài từ đề cử, hiệp thương, vận động bầu cử cho đến bỏ phiếu và phân công sau khi trúng cử. Ở từng mắt xích trong chu trình ấy, phụ nữ đều có thể gặp những bất lợi nhất định. Ngay từ khâu đề cử, nguồn nữ ứng viên chưa thực sự bảo đảm tính bền vững. Khi bước vào hiệp thương, cơ cấu giới có thể được bảo đảm về mặt số lượng, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc cơ hội cạnh tranh là thực chất và bình đẳng.
Đến giai đoạn vận động bầu cử, những hạn chế về kỹ năng, nguồn lực, mạng lưới hỗ trợ và quỹ thời gian khiến không ít nữ ứng viên gặp khó khăn. Vận động bầu cử lâu nay chưa thực sự được nhìn nhận như một năng lực cần được đào tạo và bồi dưỡng bài bản, trong khi đây lại là yếu tố có tác động trực tiếp đến kết quả cuối cùng. Ở bước bỏ phiếu, định kiến giới của một bộ phận cử tri vẫn âm thầm ảnh hưởng đến lựa chọn, dù không phải lúc nào cũng được bộc lộ rõ ràng. Ngay cả khi trúng cử, nữ đại biểu cũng ít có cơ hội đảm nhiệm các vị trí chủ chốt hoặc thường được phân công vào những lĩnh vực bị xem là thứ yếu. Điều này làm hạn chế khả năng tham gia thực chất vào quá trình hoạch định và quyết định chính sách.
Đại biểu Vũ Thị Kim Liên cũng nhìn nhận những hạn chế về nguồn lực và năng lực đang là rào cản lớn đối với nữ ứng cử viên. Nguồn cán bộ nữ đủ tiêu chuẩn, điều kiện để giới thiệu ứng cử chưa dồi dào, trong khi công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho nữ ứng cử viên và nữ đại biểu chưa triển khai thường xuyên. Ở khâu tổ chức bầu cử, việc sắp xếp liên danh còn chưa hợp lý tại một số địa phương. Việc bố trí địa bàn ứng cử không phải nơi sinh sống hoặc công tác lâu dài khiến nhiều nữ ứng viên gặp khó khăn khi tiếp xúc cử tri, nắm bắt tình hình địa phương và xây dựng chương trình hành động phù hợp. Bên cạnh đó, định kiến giới trong xã hội và áp lực gia đình tiếp tục tạo thêm sức ép vô hình. Trong khi đó, cơ chế giám sát, kiểm tra và khen thưởng việc thực hiện các quy định về cơ cấu, tỷ lệ nữ trong bầu cử vẫn chưa rõ ràng, làm giảm hiệu lực của các chủ trương về tăng cường đại diện nữ.
Để giải quyết những bất cập, GS.TS. Đặng Nguyên Anh khẳng định, nếu chỉ can thiệp ở khâu cơ cấu, thì mới xử lý “phần ngọn”, trong khi “gốc rễ” của cơ hội trúng cử nằm ở toàn bộ chu trình từ đề cử đến bỏ phiếu; do đó, cần tiếp cận toàn bộ chu trình một cách đồng bộ và thực chất.
Chính quyền địa phương hai cấp - Cơ hội mới, áp lực mới
Việc chuyển đổi mô hình tổ chức chính quyền địa phương theo hướng hai cấp, tinh gọn bộ máy và tăng phân quyền cho địa phương đang tạo ra không gian thể chế mới cho HĐND. Trong mô hình này, vai trò đại biểu có thể rõ nét hơn, gần dân hơn, gắn với đại diện và giám sát trực tiếp hơn. Ở góc độ tích cực, đây là cơ hội để nâng cao vị thế và vai trò tham chính thực chất của các nữ đại biểu. Tuy nhiên, tinh gọn bộ máy cũng đồng nghĩa với cạnh tranh cao hơn, số lượng đại biểu có thể giảm, trong khi yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm, khả năng phản biện và giám sát tăng lên, đặt ra không ít thách thức với phụ nữ tham chính.
Hình ảnh phụ nữ Việt Nam rạng ngời, mạnh mẽ trong Lễ diễu binh, diễu hành ngày 30/4/2025. (Nguồn: VGP)
Bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 cũng diễn ra trong bối cảnh khác biệt so với những nhiệm kỳ trước. Đây là thời điểm then chốt để rà soát, điều chỉnh chính sách và quy định liên quan đến bầu cử, tham chính và cơ cấu đại biểu. Nếu không điều chỉnh kịp thời, nguy cơ thu hẹp tỷ lệ nữ đại biểu trong bối cảnh sắp xếp, sáp nhập và cạnh tranh cao hơn là hiện hữu. Điều quan trọng là bảo đảm cơ hội thực chất, không chỉ dừng ở cơ cấu trên giấy tờ hay sự tham gia mang tính hình thức. Chỉ tiêu nữ cần gắn với vị trí quyết định và khả năng ảnh hưởng chính sách, chứ không chỉ cơ cấu hay tham gia hình thức.
GS.TS. Đặng Nguyên Anh nhấn mạnh rằng, việc tăng cơ hội trúng cử là điều kiện để có nữ đại biểu có vai trò thực chất. Một số đề xuất giúp tăng cường đại diện giới trong bối cảnh hiện nay như: chỉ tiêu nữ cần gắn với các vị trí quyết định ngay từ khâu giới thiệu và hiệp thương; cần tiếp cận theo toàn bộ chu trình, trong đó cần luật hóa tỷ lệ nữ trong danh sách lên 40 - 45%.
Bên cạnh đó, cũng cần có các nhóm giải pháp căn cơ về tạo nguồn và nâng cao chất lượng ứng cử viên; đào tạo, nâng cao năng lực ứng cử viên; hoàn thiện công tác tổ chức bầu cử; đẩy mạnh truyền thông và thay đổi nhận thức xã hội; hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ nữ ứng viên, nữ đại biểu. Đặc biệt, bản thân mỗi nữ ứng cử viên cũng cần chủ động, tự tin, tích cực rèn luyện, xây dựng uy tín và khẳng định năng lực. Bình đẳng giới trong tham chính không chỉ là trách nhiệm của hệ thống chính trị mà còn là hành trình nỗ lực của từng cá nhân.
Tăng cường tỷ lệ và nâng cao chất lượng nữ đại biểu HĐND là yêu cầu khách quan trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra thách thức, nhưng đồng thời mở ra cơ hội để tái thiết kế cơ chế đại diện theo hướng thực chất hơn. Nếu triển khai đồng bộ các giải pháp từ tạo nguồn, đào tạo, tổ chức bầu cử, truyền thông đến cơ chế chính sách, nhiệm kỳ 2026 - 2031 có thể trở thành bước tiến quan trọng trong việc nâng cao vai trò và tiếng nói của phụ nữ trong chính quyền địa phương.
Đỗ Trang