Học nghề là hướng đi của nhiều người trẻ trước khi tham gia vào lực lượng lao động. Ảnh internet
Để khuyến khích thanh niên, lao động trẻ học nghề, có kỹ năng nghề, chuẩn kỹ năng nghề theo khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia tham gia lực lượng lao động, Nhà nước luôn có chính sách ưu đãi đối với người học nghề.
Ưu đãi người học nghề
Với nhu cầu tuyển dụng lao động có tay nghề càng cao, nhiều bạn trẻ sau khi học xong THCS, THPT bước vào học nghề để tham gia thị trường lao động. Chương trình đào tạo nghề nghiệp trong giáo dục nghề nghiệp (GDNN) gồm: đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp, trung học nghề, sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề khác.
Tại khoản 3, Điều 6 Luật GDNN năm 2025 quy định, người học nghề học hết chương trình đào tạo trình độ cao đẳng và đủ điều kiện theo quy định thì được người đứng đầu cơ sở hoạt động GDNN cấp bằng cao đẳng; người học nghề học hết chương trình đào tạo trình độ trung cấp và đủ điều kiện theo quy định thì được người đứng đầu cơ sở hoạt động GDNN cấp bằng trung cấp; người học nghề học hết chương trình đào tạo trình độ sơ cấp và đủ điều kiện theo quy định thì được người đứng đầu cơ sở hoạt động GDNN cấp chứng chỉ sơ cấp; người học nghề học hết một chương trình đào tạo nghề khác và đủ điều kiện theo yêu cầu của chương trình thì được người đứng đầu cơ sở hoạt động GDNN cấp chứng chỉ đào tạo.
Nhiều người quan tâm về quy định tuổi được tham gia chương trình đào tạo nghề và khi tham gia chương trình học nghề, đào tạo nghề, người học được thụ hưởng chính sách ưu đãi gì của Nhà nước và người sử dụng lao động?
Luật sư Nguyễn Thanh Tấn, Đoàn Luật sư thành phố Đồng Nai hướng dẫn: Người đủ 15 tuổi trở lên, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học thì được tham gia học nghề. Đối với một số ngành, nghề đặc thù như: nghệ thuật, thể dục thể thao thì được tuyển sinh đối với người dưới 15 tuổi. Với trường hợp học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động thì người học nghề, người tập nghề phải đủ 14 tuổi trở lên và phải có đủ sức khỏe phù hợp với yêu cầu học nghề, tập nghề. Người học nghề, người tập nghề thuộc danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Nội vụ ban hành phải đủ 18 tuổi trở lên, trừ lĩnh vực nghệ thuật, thể dục thể thao.
Khi tham gia học nghề, người học được miễn, hỗ trợ học phí đối với người học chương trình giáo dục trung học nghề; người học chương trình đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng ngành, nghề đào tạo khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu; các ngành, nghề đặc thù; một số ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, quốc phòng và an ninh…
Bên cạnh đó, tại Điều 61 Bộ luật Lao động năm 2019 còn quy định, trong thời gian học nghề, tập nghề, nếu người học nghề, người tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động thì được người sử dụng lao động trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận. Hết thời hạn học nghề, tập nghề, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động khi đủ các điều kiện.
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia gồm có 5 loại được phân theo 5 bậc, từ bậc 1 đến bậc 5 tương ứng với 5 bậc trình độ kỹ năng nghề của khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia. Để được tham dự đánh giá kỹ năng nghề quốc gia ở trình độ kỹ năng nghề bậc cao hơn của một nghề, người lao động phải đáp ứng rất nhiều điều kiện. Chẳng hạn, điều kiện nâng bậc nghề từ bậc 1 lên bậc 2 phải có ít nhất 3 năm kinh nghiệm; từ bậc 2 lên bậc 3 là 6 năm kinh nghiệm; từ bậc 3 lên bậc 4 là 10 năm kinh nghiệm; bậc 4 lên bậc 5 là 15 năm kinh nghiệm.
Luật sư NGUYỄN THANH TẤN, Đoàn Luật sư thành phố Đồng Nai
Có kỹ năng nghề - dễ được tuyển dụng
Kỹ năng nghề là năng lực thực hiện công việc của người lao động được thể hiện qua việc vận dụng hiệu quả kiến thức, kỹ năng, năng lực tổ chức công việc và thái độ nghề nghiệp trong bối cảnh, điều kiện cụ thể để đạt được kết quả công việc đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và thị trường lao động.
Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia là khung phân loại các bậc trình độ kỹ năng nghề từ bậc 1 đến bậc 5 dựa trên sự mô tả theo các tiêu chí thực hiện các công việc về: tính chất, mức độ, phạm vi, tình huống phải thực hiện; mức độ linh hoạt, ứng dụng khoa học, công nghệ và sáng tạo; sự phối hợp và trách nhiệm trong thực hiện các công việc.
Ông Nguyễn Trọng Hữu (làm việc cho một doanh nghiệp giới thiệu việc làm tại phường Long Bình) cho biết: Khi người lao động có kỹ năng nghề, đạt khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia thì cơ hội nghề nghiệp luôn được mở rộng, nhà tuyển dụng luôn săn đón. Việc đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, ngày 7-4-2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm năm 2025 về phát triển kỹ năng nghề (gọi tắt là Nghị định số 138, có hiệu lực kể từ ngày ban hành 7-4-2026), mở ra cơ hội cho người học nghề và là tấm vé thông hành để qua cửa nhà tuyển dụng.
Bởi vì, mục đích của tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia theo Điều 9, Nghị định số 138 quy định là để làm căn cứ pháp lý để xây dựng, phát triển các bộ công cụ đánh giá kỹ năng nghề quốc gia để công nhận, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia theo từng nghề và từng bậc trình độ kỹ năng nghề. Làm cơ sở tham khảo khi xây dựng chuẩn chương trình đào tạo và chương trình đào tạo. Làm cơ sở tham chiếu, đối sánh và công nhận về tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia giữa Việt Nam với các quốc gia khác. Làm căn cứ để xác định nghề, công việc và bậc trình độ kỹ năng nghề ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn và sức khỏe của người lao động; phục vụ xây dựng, ban hành và cập nhật danh mục nghề, công việc và bậc trình độ kỹ năng nghề phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Đoàn Phú