Tính đến ngày 25/12/2025, tín dụng toàn hệ thống ngân hàng ghi nhận tăng trưởng 17,87% (cao hơn 13,82% so với cùng kỳ năm 2024), đây là mức tăng cao nhất trong nhiều năm qua.
Dư nợ bán lẻ ước đạt 5,79 triệu tỷ đồng, chiếm 42,5% tổng dư nợ hệ thống, dù tỷ trọng vẫn giảm nhưng đang có dấu hiệu hồi phục. Trong đó, dư nợ cho vay mua nhà đạt hơn 2,28 triệu tỷ đồng, (tăng 12,4% tính từ đầu năm đến nay), chiếm 12,7% tổng dư nợ và là động lực chính cho tín dụng bán lẻ.
Theo ghi nhận tại cuối Quý 3/2025, lãi suất cho vay trung bình ghi nhận trên BCTC các ngân hàng niêm yết giảm khoảng 2,78% từ mức đỉnh Quý 1/2023 và giảm 0,12 so với cuối Quý 4/2024. Đây là mức thấp nhất trong nhiều năm qua.
Tỷ lệ CASA của các ngân hàng niêm yết ghi nhận mức 21%, gần như không đổi so với mức cuối năm 2024 nhờ vào lãi suất tiền gửi có kỳ hạn giảm về mức thấp, doanh nghiệp và cá nhân gia tăng lượng tiền mặt phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, và nhu cầu đầu tư khi các thị trường vàng, bất động sản, chứng khoán sôi động hơn.
Trong quý 3/2025, biên lãi ròng (NIM) toàn ngành ghi nhận ở mức 3,07%, giảm 7 điểm cơ bản so với quý trước và giảm 24 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm 2024, xuống mức thấp nhất kể từ giai đoạn cuối quý IV/2018 đến nay.
Đồng thời, tỷ lệ nợ xấu nội bảng giảm nhẹ xuống 2,0%, chủ yếu đến từ các khoản vay liên quan đến BĐS và các khoản vay tiêu dùng thế chấp bằng BĐS.
Kỳ vọng bứt phá trong năm 2026
Bước sang năm 2026, VCBS kỳ vọng tăng trưởng tín dụng toàn ngành tiếp tục duy trì ở mức cao, khoảng 16–18%, vượt mục tiêu định hướng của Ngân hàng Nhà nước. Động lực chính đến từ chính sách tiền tệ nới lỏng, mặt bằng lãi suất thấp, cùng nhu cầu tín dụng phục hồi mạnh ở các lĩnh vực đầu tư công, bất động sản, kinh tế tư nhân và cho vay tiêu dùng, mua nhà dài hạn.
Mặt bằng NIM toàn ngành được dự báo cải thiện 50–70 điểm cơ bản trong năm 2026, nhờ nhu cầu tín dụng gia tăng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu cho vay sang trung – dài hạn, bán lẻ và SME. Trên nền đó, tăng trưởng lợi nhuận giữa các nhóm ngân hàng được dự báo sẽ phân hóa rõ rệt.
Nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận ổn định hơn nhờ triển vọng mở rộng NIM từ nửa cuối năm 2026, chất lượng tài sản cải thiện và áp lực trích lập dự phòng giảm dần.
Trong khi đó, các ngân hàng tư nhân năng động tiếp tục hưởng lợi từ chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân, cùng nhiều câu chuyện đầu tư như IPO, tái cơ cấu, tăng vốn chiến lược và thu hồi nợ. Đặc biệt, các ngân hàng tư nhân lớn sở hữu hệ sinh thái đa dạng và tệp khách hàng cá nhân dồi dào được đánh giá có lợi thế vượt trội trong việc tối ưu nguồn vốn, cải thiện NIM và gia tăng thu nhập từ phí.
Ngược lại, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ, sau khi tăng trưởng mạnh trong năm 2025 nhờ tín dụng bất động sản từ nền thấp, được dự báo sẽ chậm lại trong năm 2026 do nền lợi nhuận cao, rủi ro nợ xấu và khả năng bị siết tăng trưởng tín dụng bởi các quy định mới.
Định giá hấp dẫn, cơ hội chọn lọc cổ phiếu
VCBS định giá cổ phiếu ngân hàng hiện đang trở về vùng hấp dẫn, với P/B toàn ngành khoảng 1,53 lần, tương đương trung bình 5 năm. Trong dài hạn, nhóm cổ phiếu ngân hàng có chất lượng tài sản tốt và duy trì tốc độ tăng trưởng lợi nhuận vượt trội được khuyến nghị gồm: ACB, BID, CTG, HDB, MBB, MSB, NAB, STB, TPB, VIB và VPB.
Trong đó, BID được định giá 51.516 đồng/CP, kỳ vọng tăng trưởng tín dụng 16,2% năm 2026 và cải thiện mạnh chất lượng tài sản. CTG được khuyến nghị mua với giá mục tiêu 45.359 đồng/CP nhờ tín dụng tăng trưởng gần 18% và chi phí vốn thấp. HDB được đánh giá cao ở phân khúc ngân hàng tầm trung với giá mục tiêu 33.710 đồng/CP, trong khi MBB nổi bật với tăng trưởng tín dụng dự báo 27% và NIM phục hồi lên 4,3%.
STB được kỳ vọng bước vào chu kỳ hồi phục lợi nhuận từ năm 2026 nhờ xử lý dứt điểm các khoản nợ lớn, với giá mục tiêu 69.664 đồng/CP. VPB tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, được hỗ trợ bởi FE Credit và kế hoạch IPO VPBankS, với giá mục tiêu 35.030 đồng/CP.
Thơ Hoàng