Những ai phải kê khai tài sản, thu nhập hằng năm?
Nghị định 164/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 15/5/2026 nhằm quy định chi tiết về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Theo Điều 10 của Nghị định, có 3 nhóm đối tượng thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập hằng năm theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 36 Luật Phòng, chống tham nhũng.
Nhóm thứ nhất là những người giữ chức vụ từ Trưởng phòng và tương đương trở lên, có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên tại các cơ quan nhà nước. Đồng thời, nhóm này cũng bao gồm Trưởng phòng và các chức danh tương đương trở lên tại doanh nghiệp nhà nước đang đảm nhiệm các vị trí liên quan trực tiếp đến công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc thường xuyên tiếp xúc, giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân.
Nhóm thứ hai là người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Nhóm thứ ba là những người thuộc danh mục phải kê khai do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh ban hành theo thẩm quyền.
Một số nhóm đối tượng sẽ phải thực hiện kê khai tài sản, thu nhập theo các quy định
Tài khoản ngân hàng và sổ tiết kiệm có phải kê khai?
Một trong những nội dung được quan tâm nhất là việc tài khoản ngân hàng và sổ tiết kiệm có phải đưa vào bản kê khai hay không.
Theo khoản 1 Điều 9 Nghị định 164/2026/NĐ-CP, các loại tài sản và thu nhập phải kê khai đối với người có nghĩa vụ kê khai, cùng với vợ hoặc chồng và con chưa thành niên của người đó, bao gồm:
Quyền sử dụng đất;
Nhà ở, công trình xây dựng;
Các tài sản khác gắn liền với đất;
Vàng, kim cương, bạch kim và các kim khí quý, đá quý khác có tổng giá trị mỗi loại từ 150 triệu đồng trở lên;
Tiền Việt Nam và ngoại tệ dưới các hình thức tiền mặt, tiền cho vay, tiền trả trước, tiền gửi tại cá nhân, tổ chức trong nước hoặc tổ chức nước ngoài tại Việt Nam có tổng giá trị quy đổi từ 150 triệu đồng trở lên;
Cổ phiếu, trái phiếu, phần vốn góp và các loại giấy tờ có giá khác có tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;
Tài sản số và các loại tài sản khác có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên;
Các khoản nợ từ 150 triệu đồng trở lên;
Tài sản ở nước ngoài;
Tài khoản ở nước ngoài;
Tổng thu nhập phát sinh giữa hai lần kê khai.
Như vậy, tiền gửi tại ngân hàng thuộc phạm vi tài sản phải kê khai nếu đáp ứng ngưỡng giá trị theo quy định.
Theo mẫu bản kê khai ban hành kèm theo Nghị định 164/2026/NĐ-CP, đối với tiền gửi tại cá nhân hoặc tổ chức trong nước, người kê khai phải cung cấp thông tin liên quan đến số tài khoản ngân hàng hoặc số sổ tiết kiệm.
Tuy nhiên, không phải mọi tài khoản ngân hàng đều phải kê khai.
Quy định chỉ áp dụng đối với người thuộc diện có nghĩa vụ kê khai và có tổng giá trị tiền gửi, tiền mặt hoặc các khoản tiền thuộc diện kê khai từ 150 triệu đồng trở lên. Nói cách khác, ngưỡng giá trị tài sản là yếu tố quan trọng để xác định nghĩa vụ kê khai theo quy định mới.
Tuệ San