Bình gốm hoa nâu thời Lý có niên đại thế kỷ XI - XII, thuộc bộ sưu tập An Biên của ông Trần Đình Thăng (ngụ TP Hải Phòng).
Bảo vật thời Lý
Bình cao 25,5 cm; đường kính miệng 22,7 cm; đường kính đáy 18 cm, trọng lượng 2,7 kg, được làm từ đất sét trắng và cao lanh phủ men trắng ngà và tô men nâu. Để tạo hình sản phẩm, người thợ sử dụng phương pháp kết hợp in khuôn, nặn vuốt, chạm đắp điêu khắc tạo hoa văn trên bàn xoay. Liễn/hộp gốm được nung ở nhiệt độ cao nên chất lượng bền chắc, đường nét hoa văn vẫn còn nguyên vẹn, hoàn mỹ như hiện nay.
Bảo vật gồm 2 bộ phận là nắp và thân. Trước hết, người thợ gốm phải tạo dáng từng bộ phận nắp và thân bằng cách dùng các khuôn in rồi vuốt nặn chỉnh sửa trên bàn xoay. Khi đã hình thành dáng của liễn/hộp, nghệ nhân sửa vết lồi lõm ở cả bên trong và thành ngoài. Sau đó dùng kỹ thuật điêu khắc, chạm đắp tạo các băng hoa văn trang trí. Khi phủ men trắng xong, người thợ tô điểm men nâu ở các vị trí khác nhau từ trên xuống dưới theo mẫu thiết kế, tạo sự phối màu hiệu quả.
Căn cứ hình dáng, cách thức tạo tác đặc biệt chủ ý để thông giữa chỏm nắp với phần thân và chủ đề hoa văn trang trí gồm các băng cánh sen, vòng tròn nhỏ, băng vạch thẳng song song trên liễn/hộp…, nhiều nhà nghiên cứu khảo cổ, mỹ thuật, di sản văn hóa Việt Nam nhận định chiếc liễn/hộp gốm này thuộc dòng đồ phục vụ Phật giáo triều Lý, là pháp bảo đặt xá lợi, pháp thân (tâm của bậc trí giác, trí tâm kiết tường) để thờ phụng trong bảo tháp hay quốc tự, theo tinh thần xiển dương Phật pháp. Chính vì vậy, tên gọi của chiếc liễn/hộp này được định danh là hộp thờ xá lợi.
Theo "Đại Việt sử ký toàn thư", thời vua Lý Thái Tông có 2 nhà sư là Nghiêm Bản Tính và Phạm Minh Tâm, sau khi viên tịch đã để lại xá lợi và những xá lợi này được nhà vua đem thờ tại chùa Trường Thánh.
Bình gốm hoa nâu có niên đại thế kỷ XI - XII là cổ vật đỉnh cao về chế tác gốm sứ thời Lý Ảnh: T.L
"Thông cả thiên đường, thấu cùng địa phủ"
Theo nhận định được ghi trong hồ sơ di sản, liễn/hộp thờ xá lợi là chiếc liễn/hộp gốm có cấu trúc cân đối, hoa văn tinh xảo, còn khá nguyên vẹn. "Loại hình này vốn chưa được đề cập đến trong những nghiên cứu trước đây, thuộc dòng gốm hoa nâu thời Lý quý hiếm và độc lạ, mang nhiều giá trị của vật dụng hoàng gia và quốc tự, mà hiện nay ở Việt Nam hay nước ngoài chỉ còn một vài chiếc. Tuy chúng có cùng kiểu dáng, cấu trúc và trang trí hoa văn cánh sen nhưng thường không còn hoàn chỉnh và cũng có nhiều nét khác biệt so với chiếc liễn/hộp gốm này" - hồ sơ nêu rõ. Bảo vật bằng gốm này đặc biệt nổi bật giữa các loại hình gốm cùng thời kỳ. Phong cách tạo hình độc đáo duy nhất, hài hòa, mang tính thẩm mỹ cao, chưa có hiện vật thứ hai nào trùng lặp.
Các chuyên gia đánh giá sự quý giá của bảo vật không chỉ ở trình độ kỹ thuật tạo tác hoàn hảo đỉnh cao của người thợ gốm, mang giá trị mỹ thuật tiêu biểu, mà còn là tác phẩm có tính nghệ thuật cao, một bảo khí dùng trong việc thực hiện nghi lễ Phật giáo dưới triều Lý.
Bảo vật được tạo tác thanh thoát về hình khối, cầu kỳ, tinh mỹ trong đường nét hoa văn trang trí. Hoa sen là đồ án được sử dụng theo lối điêu khắc chạm tỉa tỉ mỉ, đều đặn rồi phủ men trắng, tô men nâu đường viền cánh. Các băng cánh sen kết hợp với băng vòng tròn nhỏ, vạch thẳng song song đã tạo ra một tác phẩm gốm độc đáo.
Nắp liễn/hộp tạo núm hình bông hoa sen nở với 3 tầng cánh nổi, ở giữa rỗng, thông với thân liễn/hộp. Đây chính là đường thông thiên, gợi mở một không gian vô tận thông linh - "Thông cả thiên đường, thấu cùng địa phủ" do sự vận hành vô thường và cũng là sự vĩnh hằng của vạn vật, nhân sinh. Lỗ thông linh hay cửa thông quang này chính là căn cứ xác định công năng đích thực của liễn/hộp - dùng để đặt xá lợi của bậc đại lão hòa thượng trong những ngôi chùa, bảo tháp triều Lý.
Gắn liền với Phật giáo triều Lý
Khác với những bình, liễn gốm hoa nâu thời Lý, trên phần thân thường trang trí hoa sen dây, cúc dây hay cảnh luyện võ, đấu vật, đi săn..., ở liễn/hộp gốm này thân dáng trụ, thành cong, thót đáy, chia 10 múi gồ nổi tạo nên một đóa sen lớn sống động, để trơn, không trang trí.
Nghệ thuật này làm cổ vật khoáng đạt, thanh tao, tạo nên sự khác biệt với gốm hoa nâu cùng thời, minh định đây là vật dụng biểu tượng gắn liền với Phật giáo triều Lý thế kỷ XI - XII.
Ngoài mục đích trang trí, người thợ gốm tài ba còn biểu đạt, gửi gắm nhân sinh về sự sống, lẽ đời theo quan niệm tâm linh, cõi giới. Về mặt tư tưởng, thân liễn/hộp thờ xá lợi chia 10 múi, biểu trưng theo quan niệm văn hóa cổ đại phương Đông: "Chín phương trời, mười phương Phật", hàm nghĩa tất thảy không gian bao la, rộng lớn nơi nào cũng có Phật.
Đế liễn/hộp thờ xá lợi như một đài sen chia 2 tầng đối xứng qua băng hoa văn trang trí những vòng tròn nhỏ tô men nâu và trắng tương tự trang trí trên nắp.
Dáng liễn/hộp hình trụ cho thấy bóng dáng của chiếc thạp đồng Đông Sơn, cùng các băng hoa văn vòng tròn nhỏ, vạch thẳng song song cách đó cả nghìn năm được hồi sinh trong chiếc liễn/hộp này mà văn minh Đại Việt vẫn kế tục.
Tính tôn giáo được thể hiện sâu sắc trên hiện vật: cánh sen và hạt sen (vòng tròn nhỏ) trong Phật giáo Đại thừa tượng trưng cho trí tuệ, từ bi và phương tiện thiện xảo - 3 phẩm tính không thể thiếu của một vị bồ tát để hoằng độ giáo hóa chúng sinh.
Tôn thờ xá lợi sẽ nhận được nhiều phước huệ và tùy theo phúc đức, căn tính của mỗi người mà hóa hiện, thăng tiến trên sự nghiệp tu hành đắc quả Phật.
Đỉnh cao của nghệ thuật gốm sứ
Bảo vật bằng gốm này là một trong những điển hình cho sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật gốm sứ thời Lý. Từ liễn/hộp gốm này, không chỉ phản ánh một phần giá trị tư tưởng, trình độ thẩm mỹ của thời đại mà còn cho thấy những nét văn hóa trong đời sống sinh hoạt tín ngưỡng cũng như tính hữu dụng trong quá trình tồn tại của di vật.
Nét đẹp sang quý được tạo bởi sự kết tinh giữa nghệ thuật và tâm thức người Việt thể hiện trên chiếc liễn/hộp gốm này. Vì vậy, các học giả cho rằng chỉ một xã hội phát triển, thanh bình như thời Lý thì những nghệ nhân làm gốm lấy đạo Phật di dưỡng tinh thần mới có thể tạo tác nên loại hình sản phẩm xuất sắc, giàu mỹ cảm văn hóa đến vậy.
Yến Anh