Con cá lóc nướng trui và câu chuyện khẩn hoang bên mâm lễ Mùng 10

Con cá lóc nướng trui và câu chuyện khẩn hoang bên mâm lễ Mùng 10
một giờ trướcBài gốc
Giữa không khí dịu mát cùng chút dư vị mưa đêm 26/2 còn vương lại phố phường, người phương Nam chỉn chu bày biện một ngày lễ quan trọng đầu năm.
Chẳng hề phô trương, khói nhang Mùng 10 lan tỏa từ mặt phố xôn xao vào tận những hẻm sâu hút mắt tựa như một nhịp thở trầm mặc và thành kính.
Trong số dòng người chen chúc mua vàng cầu may, vẫn có những gia đình chọn ở lại với mâm cúng Thổ, hướng lòng về bậc tiền hiền khai khẩn.
Thực chất, Mùng 10 tháng Giêng ở Nam Bộ không phải ngày “vía Thần Tài” như cách gọi phổ biến hiện nay. Theo ký ức của nhiều bậc cao niên, đây là lễ Cúng Thổ – nghi thức tạ ơn những người đã đổ mồ hôi, thậm chí xương máu thời mở đất phương Nam.
Lần giở lại lịch sử khẩn hoang, có thể thấy cư dân vùng đất mới luôn sống trong tâm thế biết ơn đất và người. Họ gọi ngày này là dịp “tạ đất”, “tạ người”, chứ không phải ngày cầu lợi lộc. Cúng Thổ, vì thế, mang tính nhân văn sâu sắc, là sự kết nối giữa hiện tại với những bước chân tiên phong thuở mở cõi.
Mùng 10 ghi nhận tại các chợ truyền thống, một số mặt hàng tăng giá nhưng sức mua vẫn khá cao, tăng gấp 2 - 3 lần so với ngày thường dù nguồn cung dồi dào.
Cụ Nguyễn Văn Hòa, 85 tuổi, lão nông tri điền bên cánh đồng xã Tân Nhựt (Bình Chánh cũ), chậm rãi nói: “Trên mảnh đất này, cha ông từ bao đời nay cúng Mùng 10 để tạ ơn mảnh đất đã nuôi sống bao thế hệ”.
Theo cụ, sự chen lấn mua vàng, khấn xin tiền bạc chỉ phản ánh một phần nhu cầu tâm linh thời nay, không còn giữ được hồn cốt việc “uống nước nhớ nguồn” của lễ Cúng Thổ, tập tục mang đậm nét văn hóa phương Nam từ thời mở đất.
Đồng quan điểm, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa Nam Bộ cho rằng ngày vía Thần Tài theo truyền thống Minh Hương thực chất là Mùng 5 Tết. Việc dồn hết ý nghĩa sang Mùng 10 xuất phát từ sự nhìn nhầm vào mâm cúng Thổ có thờ Ông Địa – Thần Tài, rồi suy diễn thành ngày chuyên cầu tài lộc. Trong khi đó, Cúng Thổ trước hết là một nghi lễ mang tính nhân sinh.
Chi tiết tưởng chừng giản dị ấy lại chứa đựng câu chuyện cộng cư của ba dân tộc Việt – Khmer – Hoa. Mỗi nén nhang, mỗi đôi đũa là một lát cắt văn hóa, phản ánh tinh thần bao dung của vùng đất mới.
Điểm độc đáo của Mùng 10 tháng Giêng còn nằm ở cấu trúc mâm cúng với 5 nén nhang nhưng chỉ 3 đôi đũa. Bởi trong tâm thức người xưa, “Chủ Thổ” không phải vị thần xa xôi mà chính là những người thật việc thật. Đó có thể là Đức Tả quân Lê Văn Duyệt, Đức Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh với công lao xác lập cương vực, hay cũng có thể là Đức Thoại Ngọc Hầu với công trình kinh Vĩnh Tế, hoặc giản dị hơn là những bậc tiền hiền khai làng, lập chợ, mở con lộ đầu tiên giữa vùng hoang địa.
Con cá lóc nướng trui giữ nguyên lớp vảy đen bóng trên bếp than hồng, tái hiện lòng biết ơn tiền nhân thời khẩn hoang trong mâm lễ Mùng 10.
Theo người xưa truyền lại, năm nén nhang trên mâm cúng tượng trưng cho sự giao thoa tín ngưỡng. Một nén giữa dành cho Chủ Thổ người Việt. Hai nén kế bên dành cho “vợ chồng Ngưu” – cách gọi dân gian của Neak Ta, thần bảo hộ phum sóc người Khmer, thường hiện diện theo cặp nam – nữ. Hai nén ngoài cùng mới dành cho Ông Địa – Thần Tài của người Minh Hương.
Tuy nhiên, trên mâm cúng chỉ đặt 3 đôi đũa. Một đôi dành cho Chủ Thổ người Việt, hai đôi cho Ông Địa – Thần Tài người Hoa. Riêng hai nén nhang của Neak Ta không có đũa, bởi theo tập tục Khmer, họ không dùng đũa trong sinh hoạt ẩm thực truyền thống. Sự sắp đặt ấy thể hiện sự tôn trọng sự khác biệt văn hóa.
Chính ở chi tiết này, tinh thần “nhập gia tùy tục” của người phương Nam được thể hiện rõ nét. Họ không loại trừ tín ngưỡng nào, cũng không đặt nặng vị trí ai cao ai thấp. Thắp nhang cho Thần Tài không phải vì coi trọng tiền bạc, mà vì tôn trọng người bạn đồng hành Minh Hương; cúng Neak Ta cũng là lời tri ân vị thần của người dân, bà con Khmer cùng làm ăn, sinh sống.
Hình ảnh cá cháy đen trong lớp tro rơm gợi nhớ những ngày đầu lưu dân đặt chân đến vùng sình lầy, chưa kịp dựng nhà đã phải lo bữa ăn qua ngày.
Lễ tạ ơn tiền nhân, mâm cỗ Mùng 10 luôn đậm hương vị sản vật địa phương. Tâm điểm không thể thiếu là con cá lóc nướng trui, để nguyên vảy, không cắt đuôi, không chỉ là món ăn, mà còn là ký ức khẩn hoang.
Cũng theo lời cụ Hòa, người xưa kể lại rằng khi dừng chân bên lung bàu đầy cá, bắt con cá lên xong xiên qua bằng nhánh tre, cắm xuống đất rồi phủ rơm đốt. Chỉ cần gỡ lớp vảy cháy xém, chiếc “áo giáp” giữ cho thịt bên trong trắng ngần, ngọt lịm, như phần thưởng nhỏ nhoi giữa hoang sơ.
Người dân đi chợ mua sắm lễ vật cho mâm cúng Thổ Mùng 10 ngoài cá lóc nướng còn sắm sửa thêm thịt heo, tôm, trái cây, xôi chè v.v..
Bao quanh cá lóc là bộ Tam sên gồm thịt ba rọi (chỉ) luộc, con tôm và quả trứng vịt, tượng trưng cho đất – nước – trời. Mâm ngũ quả với mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung gửi gắm ước mong sung túc vừa phải. Bình hoa cúc hoặc vạn thọ vàng rực đặt theo nguyên tắc “Đông bình Tây quả”, tạo thế hài hòa trang trọng.
Cách bài trí mâm cúng cũng mang ý nghĩa riêng. Năm ly nhỏ xếp hàng ngang phía trước, thường là ba ly rượu, hai ly trà. Mâm đặt giữa nhà, hướng ra cửa chính hoặc ngoài sân sạch sẽ. Tất cả không nhằm phô bày sự giàu có, mà thể hiện sự chỉn chu và lòng thành kính bậc tiền nhân.
Mâm cúng Thổ Mùng 10 thêm trầu cau thắm đượm, hòa cùng cá lóc nướng trui vẹn nguyên vảy đen, dâng lòng thành kính tri ân bậc tiền nhân.
Thời điểm cúng thường vào buổi sáng, khi nắng vừa lên, khoảng tám đến mười giờ. Gia chủ thắp năm nén nhang, khấn lời tạ ơn thay vì cầu xin trúng số hay phát tài. Lời khấn giản dị: cảm ơn tiền nhân khai khẩn, cảm ơn đất đã dung dưỡng, mong con cháu biết sống thuận hòa, giữ gìn bờ cõi.
Con cá lóc trên mâm còn mang biểu tượng riêng của phương Nam, đại diện cho sức sống bền bỉ giữa bùn lầy, hạn mặn. Nó giống khí chất lưu dân bắt đầu từ gian khó, từ đôi tay trần và rơm rạ, nhưng vẫn tạo nên sự trù phú cho đồng bằng.
Cúng Thổ Mùng 10 là nén tâm hương tạ ơn tiền nhân mở cõi, giữ trọn hồn cốt bao dung và nghĩa tình bền chặt của đất người phương Nam.
Trong khói rơm nồng nàn của những bếp lửa thuở trước, người Việt, Hoa, Khmer từng ngồi chung bên cá nướng, chén rượu đế. Không cần mâm cao cỗ đầy, họ trải lá chuối làm mâm, dùng tay bốc thịt cá. Chính sự giản dị ấy xóa nhòa khoảng cách sắc tộc, gieo mầm tình bằng hữu trên miền đất mới.
Lễ Cúng Thổ Mùng 10 tháng Giêng nhắc nhớ từng tấc đất đều thấm đẫm mồ hôi tiền nhân. Thắp năm nén nhang và ba đôi đũa tiếp tục kể câu chuyện bao dung từ thời cha ông mở đất, để hương trầm khói nhang quyện trong gió thoảng kể về câu chuyện nghĩa tình khẩn hoang đậm đà bản sắc phương Nam truyền mãi.
Hữu Long
Nguồn Du lịch TP.HCM : https://tcdulichtphcm.vn/suy-ngam/con-ca-loc-nuong-trui-va-cau-chuyen-khan-hoang-ben-mam-le-mung-10-c8a110467.html