Công nghệ chỉnh sửa gen - cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam

Công nghệ chỉnh sửa gen - cơ hội cho nông nghiệp Việt Nam
4 giờ trướcBài gốc
Rút ngắn thời gian chọn giống, nâng chất lượng sản phẩm
Theo TS Nguyễn Duy Phương, Trưởng bộ môn Bệnh học phân tử (Viện Di truyền Nông nghiệp) cho biết: GE đã và đang mở ra hướng đi mới cho chọn giống cây trồng hiện đại, với tiềm năng rút ngắn thời gian và chi phí nghiên cứu so với GMO.
Trên thế giới, GE phát triển mạnh mẽ từ đầu những năm 2000, với hàng nghìn công bố khoa học mỗi năm. Các ứng dụng chủ yếu tập trung vào cây trồng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Giống chuối chỉnh sửa gen được nghiên cứu, lai tạo tại Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa GMO và GE. GMO tạo sinh vật có ADN ngoại lai, còn GE chỉ thay đổi ADN nội sinh của chính sinh vật đó chứ không mang ADN ngoại lai. GE cho phép tác động chính xác vào từng vị trí trong bộ gen cây trồng, giúp tạo giống có khả năng chịu mặn, kháng bệnh, tăng giá trị dinh dưỡng hoặc kéo dài thời gian bảo quản mà không cần đưa gen ngoại lai như GMO.
Nhờ vậy, các sản phẩm chỉnh sửa gen gần như tương đồng với giống lai tự nhiên, đồng thời rút ngắn thời gian chọn tạo giống chỉ còn 2-5 năm, thay vì phải mất 10-15 năm so với việc tạo giống biến đổi gen.
Tại Việt Nam, nền tảng khoa học và nhân lực cho lĩnh vực này đã hình thành rõ nét. Nhiều viện, trường trong nước như Viện Di truyền Nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Công nghệ sinh học TP Hồ Chí Minh... đã làm chủ GE.
Các kết quả nổi bật gồm lúa chịu mặn và kháng bệnh, đậu tương giảm đường khó tiêu, cà chua giàu carotenoid, hay ngô và đu đủ tăng năng suất, chất lượng... Tuy nhiên, TS Nguyễn Duy Phương cho rằng, công nghệ này hiện đang bị “trói buộc” bởi việc thiếu quy chế quản lý riêng, khiến nhiều kết quả nghiên cứu chưa thể thương mại hóa.
Giống lúa chỉnh sửa gen được nghiên cứu, lai tạo tại Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam.
Thời điểm vàng để nghiên cứu, ứng dụng công nghệ chỉnh sửa gen
Hiện GE trong nông nghiệp đang là một xu thế. Nhiều nước đã chỉnh sửa luật, các quy định pháp luật nhằm tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, thương mại hóa sản phẩm nông nghiệp ứng dụng GE và công nhận, chứng nhận về các nghiên cứu này (nhằm khẳng định và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ).
Theo GS, TS Lê Huy Hàm, nguyên Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp, Chủ nhiệm Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia về công nghệ sinh học, GE được xem là một trong những đột phá quan trọng nhất của thế kỷ 21, mở ra hướng giải quyết hiệu quả cho nhiều vấn đề toàn cầu về y tế, môi trường và an ninh lương thực. Từ năm 2012 đến nay, các nước trên thế giới đã có hơn 17.000 bằng sáng chế được đăng ký (Trung Quốc 46%, Hoa Kỳ 40%...), cho thấy các quốc gia phát triển đã đầu tư rất lớn vào lĩnh vực này.
Nắm bắt xu thế trên, tại Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia diễn ra ngày 13-1-2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh vai trò chiến lược của công nghệ này.
Thực hiện chỉ đạo của Tổng Bí thư, ngày 12-6-2025, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1131/QĐ-TTg phê duyệt Ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, trong đó có liệu pháp gen (chỉnh sửa gen) trong y tế và nông nghiệp. Vì vậy, việc sớm ban hành, chỉnh sửa các quy định của pháp luật nhằm “cởi trói” cho GE trong nông nghiệp đang là một yêu cầu cấp bách đối với nông nghiệp của Việt Nam nếu không muốn bị bỏ lại phía sau, thậm chí tụt hậu. Khi đó, Việt Nam sẽ rất khó thương mại hóa, đăng ký bản quyền sản phẩm nghiên cứu ứng dụng GE ra quốc tế.
TS Trần Minh Thu, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu, Tập đoàn Giống cây trồng Việt Nam (Vinaseed), chia sẻ: Trước đây, một giống cây có thể tồn tại ổn định 3-5 năm, nhưng hiện nay có những giống chỉ sau một năm ra thị trường đã bị thay thế bằng giống khác.
Hơn nữa, việc chọn tạo giống bằng phương pháp lai tạo truyền thống đòi hỏi thời gian dài và nguồn lực lớn. Chẳng hạn, giống lúa Đài thơm nổi tiếng của công ty phải mất tới 7 năm mới hoàn thiện. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của GE, các doanh nghiệp quy mô nhỏ cũng có thể rút ngắn đáng kể thời gian chọn tạo, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu của giống cây trồng. Đây là thời điểm vàng để Việt Nam nghiên cứu, ứng dụng GE, song cũng cho rằng chúng ta cần phân biệt rõ giữa cây trồng, vật nuôi chỉnh sửa gen và biến đổi gen để có định hướng thương mại phù hợp.
“Chúng ta cần sớm xây dựng khung pháp lý cụ thể về chỉnh sửa gen dựa trên kinh nghiệm từ các quốc gia khác như Australia, Mỹ và Singapore. Đồng thời, đẩy mạnh mô hình hợp tác công-tư, trong đó doanh nghiệp phối hợp với các viện nghiên cứu các giống mới để giảm gánh nặng ngân sách, phù hợp với nhu cầu thị trường, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân và thúc đẩy nông nghiệp bền vững”, TS Trần Minh Thu nhấn mạnh.
Để “cởi trói”, tháo gỡ nút thắt đối với GE, TS Nguyễn Văn Long, Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết: Hiện Vụ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì soạn thảo các quy định pháp lý về sinh vật biến đổi gen và chỉnh sửa gen, từ đó tạo nền tảng pháp lý vững chắc để quản lý, cấp phép và khuyến khích ứng dụng GE trong nông nghiệp. Quá trình triển khai nghiên cứu, ứng dụng GE trong thời gian tới rất cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để kịp thời báo cáo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại. Về chủ trương chung thì Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đã mở ra cơ chế, chính sách mới giúp “cởi trói” cho các nhà khoa học, tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm GE vào sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam.
Nguồn QĐND : https://www.qdnd.vn/kinh-te/cac-van-de/cong-nghe-chinh-sua-gen-co-hoi-cho-nong-nghiep-viet-nam-1025085