Công nghệ nâng tầm thủy sản - Bài cuối: Khai mở 'mỏ vàng' bằng công nghệ cao

Công nghệ nâng tầm thủy sản - Bài cuối: Khai mở 'mỏ vàng' bằng công nghệ cao
4 giờ trướcBài gốc
Tuy nhiên, dưới góc nhìn của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế tuần hoàn, đây lại là nguồn tài nguyên giàu tiềm năng. Từ da cá, xương cá, đầu tôm, mỡ cá đến bùn thải hữu cơ, nếu được đầu tư công nghệ phù hợp, có thể tạo ra thực phẩm chức năng, dược phẩm, mỹ phẩm, vật liệu sinh học, năng lượng tái tạo và phân bón hữu cơ.
Khai mở “mỏ vàng” thủy sản bằng công nghệ cao.
Từ phụ phẩm thành nguồn lực tăng trưởng mới
Trong bối cảnh Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực đột phá phát triển đất nước, việc khai mở “mỏ vàng” phụ phẩm đang mở ra không gian tăng trưởng mới cho ngành thủy sản - một trong những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của nông nghiệp Việt Nam.
Nếu chỉ tính riêng một số ngành hàng chủ lực, lượng phụ phẩm phát sinh đã ở quy mô rất lớn. Với cá tra, tỷ lệ phụ phẩm trong quá trình phi lê có thể chiếm khoảng 60 - 70% khối lượng nguyên liệu, gồm đầu, xương, da, mỡ, nội tạng, thịt vụn, bong bóng, bao tử. Với tôm, phụ phẩm là đầu, vỏ, chân, dịch thải sau sơ chế. Đối với cá ngừ, cá biển và nhuyễn thể, phần đầu, xương, da, vỏ và nguyên liệu không dùng cho chế biến thực phẩm cũng chiếm tỷ lệ đáng kể.
Nhiều năm qua, không ít doanh nghiệp mới dừng ở mức tận dụng sơ cấp như sản xuất bột cá, dầu cá thô, thức ăn chăn nuôi hoặc bán cho đơn vị trung gian. Cách làm này góp phần giảm lãng phí, song giá trị thu về còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của nguồn tài nguyên sinh học mà ngành đang nắm giữ.
Trong khi đó, bối cảnh cạnh tranh hiện nay đã thay đổi. Các thị trường nhập khẩu lớn không chỉ quan tâm giá bán mà ngày càng chú trọng phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc, sử dụng hiệu quả tài nguyên và trách nhiệm môi trường. Điều đó buộc ngành thủy sản phải chuyển từ tư duy tăng sản lượng sang tư duy gia tăng giá trị.
Từ thực tế sản xuất, có thể thấy nếu một con tôm hay con cá chỉ tạo giá trị ở phần thịt chính phẩm, chuỗi sản xuất mới khai thác được một phần tiềm năng. Khi toàn bộ sinh khối được sử dụng hiệu quả, giá trị gia tăng trên cùng một đơn vị nguyên liệu sẽ tăng lên đáng kể mà không nhất thiết phải mở rộng thêm sản lượng đầu vào.
Tiến sĩ Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhận định, ngành thủy sản Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, trong đó tăng trưởng phải gắn với đổi mới mô hình sản xuất, kinh tế tuần hoàn và ứng dụng mạnh khoa học công nghệ. Đây là yêu cầu tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng cao.
Theo các chuyên gia, dư địa lớn của ngành hiện nay không chỉ nằm ở mở rộng vùng nuôi hay gia tăng khai thác, mà còn ở khả năng tạo thêm nhiều tầng giá trị trên cùng một đơn vị nguyên liệu sau thu hoạch.
Riêng với ngành cá tra, TS Bùi Thị Thu Hiền, Trung tâm Nghiên cứu hải sản phía Bắc (Viện Khoa học thủy sản Việt Nam) cho rằng, phụ phẩm cá tra hoàn toàn có thể chế biến thành thực phẩm cho người, dược phẩm hoặc các sản phẩm giá trị cao hơn. Phần cuối cùng không thể sử dụng mới xử lý làm phân bón sinh học, chất kích thích tăng trưởng.
Điều đó đồng nghĩa gần như toàn bộ con cá có thể được khai thác theo mô hình tuần hoàn khép kín. Không chỉ cá tra, hướng đi này cũng phù hợp với tôm, cá ngừ, nhuyễn thể và nhiều ngành hàng khác. Nói cách khác, “mỏ vàng” phụ phẩm không nằm ở một sản phẩm đơn lẻ, mà là cơ hội tái cấu trúc cả chuỗi thủy sản theo hướng xanh hơn và hiệu quả hơn.
TS Bùi Thị Thu Hiền, Trung tâm Nghiên cứu Hải sản phía Bắc (Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam) chia sẻ tại Hội nghị gần đây.
Công nghệ quyết định chiều sâu giá trị gia tăng
Điểm khác biệt lớn nhất giữa phụ phẩm giá rẻ và nguyên liệu giá trị cao nằm ở trình độ công nghệ chế biến. Nếu chỉ dừng ở ép dầu, sấy khô hoặc nghiền bột, giá trị gia tăng thấp và dễ cạnh tranh bằng giá. Nhưng khi ứng dụng công nghệ sinh học, enzyme, vi sinh, tự động hóa, vật liệu mới và quản trị số, cùng một nguồn nguyên liệu có thể tạo ra những sản phẩm hoàn toàn khác về giá trị kinh tế.
Theo TS Bùi Thị Thu Hiền, nếu bán ở dạng bột cá hoặc mỡ cá thô, giá trị chỉ ở mức thấp. Tuy nhiên, khi chế biến thành collagen, gelatin hoặc các sản phẩm chuyên biệt, giá trị có thể tăng lên nhiều lần. Đây là khoảng cách rất lớn giữa chế biến thô và chế biến sâu.
Từ da cá có thể chiết tách collagen, gelatin phục vụ ngành mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dược phẩm. Từ xương và đầu cá có thể sản xuất peptide, canxi hữu cơ, dầu cá giàu Omega-3. Từ phụ phẩm tôm có thể sản xuất chitin, chitosan ứng dụng trong y sinh, bảo quản thực phẩm, xử lý nước và nông nghiệp công nghệ cao.
Ước tính khối lượng các nhóm phụ phẩm từ cá tra năm 2024 là 700.000 - 900.000 tấn/năm.
Trong khi đó, nội tạng, bùn thải hữu cơ hoặc phần nguyên liệu cuối cùng sau chế biến có thể sử dụng để sản xuất khí sinh học, phân bón hữu cơ hoặc nguyên liệu phục vụ nông nghiệp xanh.
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng đóng góp vào thành tựu chung của ngành nông nghiệp thời gian qua, từ phát triển hệ thống thủy lợi, nâng cao chất lượng giống cây trồng, vật nuôi đến gia tăng giá trị xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực thủy sản, khoa học công nghệ vẫn chưa trở thành động lực then chốt. Nhiều đề tài nghiên cứu còn phân tán, thiếu gắn kết với chuỗi giá trị, trong khi yêu cầu đặt ra hiện nay là phát triển theo hướng kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và gia tăng giá trị.
Thực tế, một số doanh nghiệp lớn trong ngành đã đầu tư dây chuyền tận dụng phụ phẩm để sản xuất dầu tinh luyện, collagen, gelatin, thức ăn thủy sản chất lượng cao, tuy nhiên quy mô chưa đồng đều và chủ yếu tập trung ở doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh.
Phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó về vốn, công nghệ, nhân lực và đầu ra thị trường. Vì vậy, bài toán đặt ra không chỉ là có phụ phẩm hay không, mà là hệ sinh thái đổi mới sáng tạo có đủ mạnh để biến phụ phẩm thành hàng hóa giá trị cao hay chưa.
Một số hiện trạng nghiên cứu về sản xuất sản phẩm thực phẩm từ phụ phẩm cá tra.
Nghị quyết số 57-NQ/TW được xem là cú hích quan trọng cho quá trình này khi đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của đổi mới sáng tạo. Với ngành thủy sản, điều đó đồng nghĩa cần thúc đẩy liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp với viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức tài chính và địa phương.
Khi kết nối tốt các mắt xích, kết quả nghiên cứu có thể đi nhanh hơn từ phòng thí nghiệm tới nhà máy, từ mô hình thử nghiệm tới sản xuất quy mô lớn. Chuyển đổi số cũng giữ vai trò ngày càng quan trọng. Khi dữ liệu nguyên liệu đầu vào, nhiệt độ bảo quản, hiệu suất chiết tách, tồn kho, tiêu hao năng lượng và truy xuất nguồn gốc được quản trị theo thời gian thực, doanh nghiệp có thể giảm thất thoát, tối ưu chi phí và kiểm soát chất lượng tốt hơn.
Đây là lợi thế cạnh tranh rất quan trọng trong bối cảnh các thị trường cao cấp ngày càng siết chặt tiêu chuẩn nhập khẩu. Một xu hướng đáng chú ý khác là phát triển mô hình “nhà máy không rác thải”. Trong đó, phụ phẩm của công đoạn này trở thành đầu vào của công đoạn khác; nước thải sau xử lý được tái sử dụng; nhiệt dư được thu hồi; bùn hữu cơ được chuyển hóa thành phân bón hoặc năng lượng sinh học.
Khi đó, giá trị không chỉ đến từ sản phẩm bán ra mà còn từ chi phí được tiết giảm trong toàn bộ hệ thống sản xuất. Ở tầm ngành, phát triển công nghiệp phụ phẩm còn giúp giảm phụ thuộc vào biến động giá xuất khẩu hàng sơ chế. Khi thị trường phi lê cá tra, tôm đông lạnh hoặc hàng chế biến truyền thống chững lại, các dòng sản phẩm sinh học, thực phẩm chức năng và nguyên liệu công nghiệp có thể trở thành nguồn doanh thu bổ sung quan trọng.
Đây cũng là cách nâng sức chống chịu của chuỗi thủy sản trước biến động thương mại toàn cầu. Để hiện thực hóa mục tiêu này, nhiều chuyên gia cho rằng cần đồng thời triển khai các giải pháp: hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tư công nghệ cao; hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp đổi mới thiết bị; thúc đẩy liên kết viện - trường - doanh nghiệp; xây dựng trung tâm nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học thủy sản; chuẩn hóa tiêu chuẩn sản phẩm từ phụ phẩm; đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật cao.
Các hướng nghiên cứu sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng từ phụ phẩm cá tra. Nguồn: Tổng hợp từ các kết quả đã công bố năm 2025.
Song song đó là xây dựng cơ sở dữ liệu số ngành thủy sản, từ vùng nuôi, sản lượng, phụ phẩm phát sinh đến nhu cầu thị trường, giúp doanh nghiệp hoạch định đầu tư chính xác hơn. Quan trọng hơn cả là thay đổi tư duy phát triển. Phụ phẩm không phải phần còn lại sau sản xuất, mà là tài nguyên cần được thiết kế giá trị ngay từ đầu chuỗi.
Khi ao nuôi, con giống, thức ăn, chế biến và logistics cùng vận hành theo logic tuần hoàn, giá trị tạo ra sẽ lớn hơn nhiều so với cách làm phân mảnh trước đây. Trong giai đoạn mới, thủy sản Việt Nam không chỉ cạnh tranh bằng sản lượng hay lao động giá rẻ, mà phải cạnh tranh bằng công nghệ, tiêu chuẩn xanh và năng lực sáng tạo.
Nếu làm chủ được chế biến sâu, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi số, Việt Nam sẽ không chỉ bán con tôm, con cá, mà còn bán tri thức, công nghệ và mô hình phát triển bền vững. Đó có thể là bước chuyển quan trọng để ngành kinh tế mũi nhọn này tiếp tục nâng tầm vị thế trên bản đồ thủy sản thế giới.
Bài, ảnh: Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc
Nguồn Tin Tức TTXVN : https://baotintuc.vn/thuc-hien-nghi-quyet-57/cong-nghe-nang-tam-thuy-san-bai-cuoi-khai-mo-mo-vang-bang-cong-nghe-cao-20260430110900080.htm