Để phát triển được một nền nông nghiệp bền vững, hiện nay các nhà khoa học và nhiều đơn vị trong lĩnh vực công nghệ sinh học đã và đang nghiên cứu, không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới.
Thực tế, xu hướng chuyển đổi từ nông nghiệp hóa học sang nông nghiệp công nghệ sinh học đã diễn ra từ lâu, nhưng hiện nay đang trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Các quốc gia như châu Âu, Nhật Bản hay Mỹ đã có rất nhiều trang trại chuyển sang canh tác dựa trên nền tảng sinh học.
Theo các chuyên gia nông nghiệp, nông nghiệp sinh học dựa trên ba yếu tố cốt lõi. Điều đầu tiên là hiểu biết về tự nhiên, để cây trồng có thể phát triển hài hòa với môi trường. Điều này đòi hỏi người làm nông phải có kiến thức và sự am hiểu sâu về hệ sinh thái tự nhiên.
Điều quan trọng bên cạnh đó là cách ứng dụng các sản phẩm công nghệ sinh học do các nhà khoa học nghiên cứu và phát triển, nhằm rút ngắn quá trình chuyển đổi. Hiện nay có nhiều sản phẩm hữu cơ sinh học, vi sinh vật có lợi, hay các chiết xuất từ dược liệu có thể đưa vào đất để phục hồi đất chai hóa, xử lý ô nhiễm và tái tạo hệ sinh thái đất.
Giải pháp sử dụng sản phẩm công nghệ sinh học tưới cho cây được nhiều bà con sử dụng.
Thứ ba là sử dụng các hoạt chất sinh học để kích thích sự sinh trưởng của cây trồng một cách bền vững, đồng thời góp phần hình thành và duy trì hệ sinh thái đất khỏe mạnh.
Như vậy, để giải quyết bài toán nông nghiệp bền vững và hướng tới mục tiêu phát thải thấp, việc ứng dụng công nghệ sinh học là một hướng đi đặc biệt quan trọng.
Vừa qua, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 21/4/2026 về việc tập trung phát triển, ứng dụng hiệu quả công nghệ sinh học thành ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chỉ thị nêu: “Trong thời gian qua, các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30/01/2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới và Nghị quyết số 189/NQ-CP ngày 16/11/2023 của Chính phủ ban hành kèm theo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị; nhận thức về vai trò của công nghệ sinh học đã được nâng lên; công nghệ sinh học nước ta đã có bước phát triển nhanh, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, bước đầu hình thành các mô hình ứng dụng công nghệ sinh học hiệu quả trong các lĩnh vực như: nông nghiệp, y tế, môi trường...; nhiều nhiệm vụ, đề án quan trọng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và triển khai”...
Đồng thời, Chỉ thị này cũng chỉ rõ “Phát triển công nghệ sinh học phải được đặt trong tổng thể triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; ưu tiên nguồn lực nhà nước đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng và phát triển các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, sản phẩm chủ lực quốc gia trong lĩnh vực công nghệ sinh học, nhiệm vụ có khả năng tạo đột phá và lan tỏa lớn; nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, an ninh; khuyến khích mạnh mẽ khu vực tư nhân đầu tư vào công nghiệp sinh học; phát triển công nghiệp sinh học lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, công thương thành ngành kinh tế-kỹ thuật”.
Từ những định hướng mang tính chiến lược đó có thể thấy, phát triển nông nghiệp bền vững không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hiện nay. Việc đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học không chỉ giúp nâng cao năng suất, chất lượng nông sản mà còn góp phần bảo vệ môi trường, phục hồi hệ sinh thái và hướng tới một nền nông nghiệp xanh, tuần hoàn.
Hiện nay trên thị trường cũng có nhiều sản phẩm công nghệ sinh học. Qua đánh giá của các nhà khoa học, một số giải pháp đã được nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều năm, cho thấy hiệu quả rõ rệt trong cải tạo đất và xử lý ô nhiễm đất.
Ông Phạm Văn Duy, Chủ tịch Viện Phát triển công nghệ, thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam chia sẻ: “Qua quá trình khảo sát, đánh giá thực nghiệm tại một số vườn cây như cà-phê, kết quả bước đầu cho thấy những tín hiệu tích cực về khả năng phục hồi đất và cải thiện sinh trưởng của cây trồng. Điều này cho thấy tiềm năng để nhân rộng các mô hình canh tác sinh học, giúp người nông dân phát triển nông nghiệp bền vững, phù hợp với xu hướng của thế giới cũng như yêu cầu ngày càng cao của thị trường”.
Sau 3 tháng sử dụng sản phẩm hữu cơ sinh học Bồ Đề, vườn chanh leo cho năng suất vượt trội, trái mọng nước, vàng óng như mật, khôi phục vị tự nhiên thơm ngon.
Đi thực tế tại vườn chanh leo thử nghiệm sản phẩm hữu cơ sinh học Bồ Đề, anh Đậu Ngọc Thanh (Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp hệ sinh thái Đắk Lắk) tâm sự, trước đó anh cũng thử nhiều hướng sinh học khác nhau, nhưng đa phần chưa ổn định, thiếu hệ thống và chưa giải quyết được tận gốc vấn đề đất. Nhưng với sản phẩm của Bồ Đề thì khác, hiệu quả nhìn thấy rõ chỉ chừng 3 tháng sau khi sử dụng.
“Cảm giác lần đầu tiên cầm trái chanh dây trồng theo công nghệ này thì rất “đã”. Trái to, đẹp, màu sắc bắt mắt. Ba tháng đã cho trái, và từ đó đến nay (3 tháng nay-PV), giàn vẫn trổ quả và liên tục cho thu hoạch”, anh Thanh hồ hởi nói. Bứt một quả hơi rám đỏ, anh bửa đôi mời thử rồi bảo: “Cô ăn rồi cảm nhận đi. So với trước đây thì chất lượng khác hoàn toàn: quả nhiều nước, nặng tay, vỏ dày, thơm, vị ngọt dịu, trái bóng và chắc, ăn rất sướng”.
Anh Đậu Ngọc Thanh (Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp hệ sinh thái Đắk Lắk) giới thiệu với bà Nguyễn Thị Hằng, Chủ tịch Hội đồng quản trị-Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Bồ Đề Thịnh vượng về sản phẩm chanh leo được trồng sử dụng công nghệ hữu cơ sinh học.
Đặc biệt, trong chuỗi sản xuất chanh leo, anh Thanh bảo gần như không bỏ đi phần nào: Lá và ngọn có thể ăn được, còn những quả nhỏ không đạt chuẩn xuất khẩu thì được dùng làm mứt, chất lượng cao, vỏ dày, cùi giòn, ăn ngon.
“Chanh dây trồng theo hướng này giúp chống lão hóa, bổ sung vitamin, khoáng chất và chống oxy hóa tốt. Như tôi ngày nào cũng phơi nắng nhưng da vẫn khỏe”, anh cười hào sảng, ánh mắt lên niềm hạnh phúc.
Chứng kiến không ít ‘vùng đất chết’ - nơi đất bị bào mòn bởi hóa chất đến mức mất khả năng nuôi cây, bà Nguyễn Thị Hằng, Chủ tịch Hội đồng quản trị-Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Bồ Đề Thịnh vượng (trước đây là Công ty cổ phần Tập đoàn Thủy sản Bồ Đề) đau đáu nỗi niềm, không chỉ riêng Tây Nguyên mà trên phạm vi cả nước, môi trường đất bị suy thoái nghiêm trọng. Chai hóa, ngộ độc hóa học và cả ngộ độc hữu cơ khiến nhiều khu đất bạc màu, kiệt quệ sức sống.
Bà Nguyễn Thị Hằng hạnh phúc khi công nghệ sinh học của Bồ Đề Group giúp tăng được năng suất cây chanh leo, tạo sinh kế bền vững cho bà con.
Bởi vậy, muốn người nông dân gắn bó và “yêu” nông nghiệp hơn, bà cho rằng, cần có giải pháp căn cơ, không thể để tình trạng “được mùa mất giá, được giá mất mùa” kéo dài như hiện nay. Và con đường tất yếu để hồi sinh những vùng đất nghèo dinh dưỡng là phải ứng dụng công nghệ sinh học vào nông nghiệp, đúng theo tinh thần đổi mới sáng tạo của Nghị quyết 57-NQ/TW. Đây là một bước tiến quan trọng của khoa học nông nghiệp, giúp tạo ra sự bứt phá về năng suất, chất lượng và tính bền vững.
Sản phẩm Bồ Đề 12688 là sản phẩm hữu cơ sinh học được chiết xuất 100% từ thảo dược, có khả năng bổ sung và hoạt hóa các phytohormone tự nhiên như auxin, cytokinin, gibberellin cùng các hợp chất sinh học như flavonoid, phenolic, terpenoid. Nhờ đó, sản phẩm giúp kích thích phát triển rễ, mầm, lá; tăng khả năng chống chịu của cây trước các điều kiện bất lợi như hạn, mặn, nhiệt, phèn; đồng thời cải thiện khả năng hấp thu và đồng hóa dinh dưỡng theo từng giai đoạn sinh trưởng.
Để có được những kết quả vượt trội trong hỗ trợ người nông dân canh tác theo mô hình nông nghiệp xanh, 17 năm qua, Công ty cổ phần Tập đoàn Bồ Đề Thịnh Vượng đã dành tâm huyết để đưa sản phẩm công nghệ sinh học vào canh tác nông nghiệp. Bồ Đề Group là doanh nghiệp được Trung tâm Khuyến nông quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) giao dự án Khuyến nông trung ương về “Xây dựng mô hình tôm sú-lúa hữu cơ phục vụ phát triển vùng nguyên liệu tại Đồng bằng sông Cửu Long” từ năm 2022- 2024.
Sau 3 năm triển khai dự án và thực hiện ứng dụng sản phẩm công nghệ sinh học Bồ Đề tại vùng tôm-lúa của một số địa phương của Đồng bằng sông Cửu Long, kết quả được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nghiệm thu theo quyết định số 733/QĐ-BTNMT ngày 11/4/2025 cho thấy 83% số tiêu chí cơ sở nuôi tôm sú-lúa hữu cơ đạt tiêu chuẩn hữu cơ Quốc gia TCVN 11041, năng suất và hiệu quả kinh tế tăng 30%. Thành công đó, khiến Bồ Đề Group càng có niềm tin sẽ trở thành điểm tựa cho bà con nông dân trong hướng đi xanh hóa nông nghiệp.
“Việc người nông dân sử dụng sản phẩm hữu cơ sinh học không chỉ giúp tăng năng suất, mà còn kéo dài tuổi thọ của hoa trái, kéo dài tuổi thọ sinh trưởng của cây, mang lại nguồn thu nhập bền vững”, bà Hằng hạnh phúc nói.
Kiểm nghiệm đất vừa được thử sản phẩm hữu cơ sinh học một thời gian ngắn, nhìn đất khô cằn giờ đã hồi sinh màu đen, ông Phạm Văn Duy, Chủ tịch Viện Phát triển công nghệ, thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam cũng ấn tượng rất lớn trước khả năng của sản phẩm hữu cơ sinh học Bồ Đề.
Ông chia sẻ, qua nghiên cứu, thử nghiệm thực tiễn, các nhà khoa học của viện nhận thấy công nghệ này tăng cường khả năng cải tạo đất thông qua một cơ chế tác động kép, vừa tăng cường xử lý trực tiếp các chất độc hại có nguồn gốc hóa học làm ô nhiễm đất, vừa tái tạo hệ sinh thái đất, từ đó có thể giúp ngăn ngừa cây trồng hấp thụ các độc tố và đáp ứng yêu cầu thị trường về tính an toàn sản phẩm.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với những vùng đất bị nhiễm kim loại nặng như Cadimi, Pb... Khi được đưa vào đất (thông qua việc tưới), qua theo dõi và đo lường trực tiếp trên hiện trường, các nhà khoa học nhận thấy sản phẩm giúp cân bằng độ pH và tăng cường lượng oxy trong đất. Đây là yếu tố then chốt để thay đổi môi trường lý hóa của đất, giúp đất không còn bị chai hóa hay ngộ độc hóa học.
Trên nền đất cằn khô sỏi đá, giàn chanh leo vẫn tươi tốt nhờ áp dụng công nghệ sinh học có tính mới.
Nhờ việc tăng oxy và cân bằng pH, môi trường đất được "xanh hóa" và tái sinh, tạo điều kiện cho các vi sinh vật có lợi và giun đất (trùng đất) phát triển mạnh mẽ trở lại. Sự xuất hiện của giun đất là minh chứng cho việc đất đã hồi phục độ màu mỡ và thoát khỏi tình trạng bị "tổn thương" do hóa chất.
Những kết quả bước đầu từ công nghệ sinh học không chỉ dừng lại ở việc cải tạo đất hay tăng năng suất cây trồng, mà quan trọng hơn là đang mở ra một tư duy mới trong nông nghiệp: sản xuất dựa trên hệ sinh thái bền vững, giảm phụ thuộc hóa chất và hướng tới giá trị lâu dài. Khi đất được “chữa lành”, cây trồng khỏe hơn và người nông dân có thu nhập ổn định hơn, hành trình xanh hóa nông nghiệp không còn là khẩu hiệu mà dần trở thành hiện thực.
THIÊN LAM
Nguồn Nhân Dân : https://nhandan.vn/cong-nghe-sinh-hoc-hoi-sinh-dat-nang-gia-tri-nong-san-cho-nong-dan-post958510.html