Trong bối cảnh Việt Nam đã cam kết mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, công nghiệp khai khoáng – lĩnh vực vốn gắn liền với nhiều thách thức môi trường – đang buộc phải đổi mới. Ứng dụng khoa học, công nghệ được coi là “chìa khóa” để ngành vừa duy trì sản xuất, vừa hướng tới phát triển xanh, bền vững. Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Mạnh Chuyền, Phó Trưởng ban Môi trường, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) xung quanh vấn đề này.
Công nghệ là nền tảng cho mục tiêu phát triển xanh
-Thưa ông, vai trò của việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào khai thác khoáng sản hiện nay được nhìn nhận như thế nào?
Ông Nguyễn Mạnh Chuyền: Ứng dụng công nghệ đã trở thành xu thế tất yếu trong công nghiệp khai khoáng toàn cầu. Đây không chỉ là công cụ nâng cao năng suất, an toàn mà còn là điều kiện bắt buộc để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Thứ nhất, công nghệ hiện đại cho phép khai thác hiệu quả hơn, giảm tổn thất tài nguyên. Những tiến bộ trong khai thác hầm lò, lộ thiên, chế biến, vận chuyển giúp giảm diện tích bị tác động, hạn chế khai thác lan rộng ra các khu vực mới.
Thứ hai, công nghệ hỗ trợ giảm phát sinh chất thải, xử lý triệt để nước thải, khí thải, bụi và chất thải rắn. Từ lọc bụi tĩnh điện, quan trắc khí thải tự động, đến tái sử dụng đất đá thải để cải tạo môi trường, tất cả đều dựa vào tiến bộ kỹ thuật.
Thứ ba, công nghệ góp phần vào chuyển đổi số và minh bạch quản lý môi trường. Các hệ thống quan trắc tự động, dữ liệu số hóa cho phép doanh nghiệp vừa quản lý chặt chẽ, vừa công khai minh bạch với cơ quan quản lý và cộng đồng.
Như vậy, khoa học, công nghệ là nền tảng để ngành khai khoáng tiến tới mục tiêu vừa đảm bảo an ninh năng lượng, vừa hài hòa với mục tiêu phát triển xanh, bền vững.
Ông Nguyễn Mạnh Chuyền, Phó Trưởng ban Môi trường, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV). Ảnh: GIZ
- Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn về những giải pháp công nghệ và kỹ thuật đã và đang được triển khai tại TKV để hướng tới sản xuất xanh?
Giai đoạn 2025 - 2030 TKV đặt mục tiêu phát triển bền vững, hài hòa với môi trường và thực hiện chuyển đổi số toàn diện. Do đó, công tác đổi mới công nghệ cũng được chú trọng.
Trong khai thác lộ thiên, TKV áp dụng thiết kế đổ thải phân tầng, thiết bị đồng bộ công suất lớn giúp giảm phát tán bụi, khí thải. Trong khai thác hầm lò, áp dụng cơ giới hóa đã giảm tiêu hao gỗ chống lò từ 40-45 m³/1.000 tấn than xuống còn 6-7 m³. Với các nhà máy tuyển, TKV ứng dụng công nghệ lọc ép bùn, lọc khô để xử lý triệt để bùn thải.
Kết quả cho thấy, nhiều khu vực mỏ nay đã cải thiện đáng kể cảnh quan, có thể phát triển song song với du lịch, đô thị, sân golf như tại Hạ Long. Đặc biệt, lượng phát thải khí nhà kính toàn giảm mạnh tới hơn 20 triệu tấn CO2.
Các mỏ than hầm lò trọng điểm như Khe Chàm, Mạo Khê, Núi Béo, Vàng Danh… đã và đang được đầu tư mở rộng, áp dụng đồng bộ hệ thống băng tải, thông gió, thoát nước và điều khiển tập trung, từng bước thay thế lao động thủ công, nâng cao an toàn và năng suất. Nhiều dự án lớn đã phát huy hiệu quả rõ rệt, như: Dự án khai thác hầm lò Khe Chàm III, nâng công suất khai thác lên 2 triệu tấn/năm; mỏ hầm lò Núi Béo công suất 2 triệu tấn/năm, được đánh giá là một trong những mỏ hiện đại của TKV.
Nhằm nâng cao năng suất và an toàn, TKV xác định cơ giới hóa, tự động hóa và chuyển đổi số là những khâu đột phá. Đến nay, Tập đoàn đã đưa vào vận hành hàng chục hệ thống máy khấu than, giàn chống tự hành, băng tải liên tục có mái che, giúp tăng năng suất khai thác hầm lò thêm 10-15%, tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng chi phí sản xuất mỗi năm.
Đồng thời, áp dụng hệ thống điều hành sản xuất tập trung (Dispatching), ứng dụng công nghệ số trong giám sát an toàn hầm lò, quản lý tiêu thụ than và quản trị doanh nghiệp. Các Công ty Than Hà Lầm, Hà Tu, Đèo Nai - Cọc Sáu đã tiên phong ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giám sát môi trường mỏ, tự động hóa vận hành băng tải và quản lý phương tiện vận tải.
Đưa công nghệ vào khâu quy hoạch, thiết kế mỏ
- Vậy theo ông, định hướng chung cho các doanh nghiệp khai khoáng trong việc ứng dụng khoa học, công nghệ để phát triển bền vững là gì?
Ông Nguyễn Mạnh Chuyền: Tôi cho rằng cần đưa công nghệ vào ngay từ khâu quy hoạch, thiết kế mỏ. Nếu lựa chọn công nghệ khai thác, chế biến hiện đại từ đầu, doanh nghiệp vừa nâng cao hiệu quả kinh tế, vừa giảm tác động môi trường lâu dài.
Bên cạnh đó, cần hướng tới kinh tế tuần hoàn và quản trị số. Điều này có nghĩa là không chỉ dừng ở xử lý chất thải, mà còn tái sử dụng, tái chế, thu hồi phụ phẩm, áp dụng công nghệ số trong giám sát để minh bạch và tối ưu vận hành.
Doanh nghiệp cũng cần chuẩn bị cho lộ trình chuyển dịch năng lượng trong bối cảnh xu thế toàn cầu là giảm dần nhiên liệu hóa thạch. Doanh nghiệp khai khoáng cần sớm thích ứng bằng cách đầu tư công nghệ sạch, đào tạo lại nhân lực, đa dạng hóa lĩnh vực để không bị động trước thay đổi.
Tóm lại, công nghệ phải trở thành nền tảng trong mọi quyết định đầu tư của doanh nghiệp khai khoáng. Chỉ có như vậy, ngành mới vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, vừa hài hòa với yêu cầu bảo vệ môi trường và mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính.
Việc ứng dụng công nghệ hiện đại không chỉ giúp khai thác hiệu quả tài nguyên mà còn giảm phát thải, phục hồi môi trường. Đây là nền tảng để ngành khai khoáng “xanh hóa” và phát triển bền vững.
Phong Lâm