Công trình trọng điểm ở phía Nam vẫn đối mặt với nguy cơ thiếu cát, đá xây dựng

Công trình trọng điểm ở phía Nam vẫn đối mặt với nguy cơ thiếu cát, đá xây dựng
2 giờ trướcBài gốc
Theo các quyết định phê duyệt quy hoạch vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030 tầm nhìn đến năm 2050 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm 2030 sẽ đầu tư xây dựng mới và nâng cấp khoảng 1.700 km đường bộ cao tốc; khoảng 4.000 km đường quốc lộ, 4 cảng hàng không, 13 cảng biển, 11 cụm cảng hành khách và 13 cụm cảng hàng hóa đường thủy.
Với kế hoạch đầu tư công của TP Hồ Chí Minh, nhu cầu vật liệu xây thông thường từ năm 2026 đến năm 2030 đã rất lớn. Theo Sở Xây dựng thành phố, năm 2025 vừa qua, cơ quan này đã hoàn tất các thủ tục đầu tư để khởi công 63 dự án, gói thầu các công trình trọng điểm thuộc lĩnh vực giao thông đường bộ. Đối với lĩnh vực đường sắt đô thị, một loạt dự án cũng đã được Sở Xây dựng tổ chức thẩm định, lựa chọn nhà đầu tư hoặc thực hiện các thủ tục về đầu tư, chuẩn bị đầu tư.
Khai thác, chế biến đá xây dựng.
Tổng vốn đầu tư hàng triệu tỷ đồng mà trong đó 35% vốn đầu tư của dự án dành cho vật liệu và 90% khối lượng công trình được hình thành từ VLXD. Vì vậy, để đáp ứng đủ nguồn VLXD cho khu vực này đang là thách thức không nhỏ. Năm nay riêng nhu cầu cho các dự án có vốn đầu tư công của TP Hồ Chí Minh đã cần khoảng 26 triệu m3 đá xây dựng. Nếu phải đáp ứng cho các công trình trọng điểm ở khu vực miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, nhu cầu đá xây dựng năm nay sẽ cần gấp 2 lần con số trên, song việc cung ứng đá xây dựng thực hiện theo cơ chế liên tỉnh, liên kết vùng hiện chưa có cơ chế. Điều này khiến tình trạng khan hiếm cục bộ gia tăng, giá loại vật liệu này có thề bị “thổi” lên cao.
TS Võ Minh Đức, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp khoáng sản TP Hồ Chí Minh - Phó Chủ tịch Hội VLXD Việt Nam cho biết, tại thành phố hiện có khoảng 83 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác, chế biến khoáng sản làm VLXD với tổng cộng 96 điểm mỏ đang hoạt động, tổng diện tích được cấp phép là 2.082 ha. Trong đó đá xây dựng có 48 điểm mỏ, tổng diện tích khai thác là 1.193 ha, công suất được cấp phép đạt 25 triệu m3/năm. Nhưng công suất khai thác thực tế chỉ đạt trên 17 triệu m3 trong năm 2025 và những năm tới khả năng còn giảm thấp do một số vướng mắc về thủ tục và thời hạn giấy phép hết hạn. Trong khi đó trữ lượng đá xây dựng ở khu vực này đã được quy hoạch và đánh giá lên tới trên 1.000 triệu m3. Về cát xây dựng, nếu không tính các mỏ cấp cho Dự án khu đô thị lấn biển Cần Giờ, trên địa bàn chỉ có 9 giấy phép khai thác trên diện tích 143 ha, công suất cấp phép 400.000 m3/năm và năm 2025 vừa qua khối lượng khai thác cũng chỉ đạt 230.000 m3. Vật liệu san lấp hiện có 6 mỏ đang được hoàn thiện hồ sơ.
Ông Võ Minh Đức cho rằng, các mỏ khoáng sản, nhất là đá xây dựng có đặc điểm là giấy phép đã được cấp từ 5 - 10 năm trước, nhiều mỏ gần hết thời hạn cấp phép, sản lượng khai thác thấp. Độ sâu khai thác cũng hạn chế do thời điểm được cấp phép chưa có Luật Quy hoạch, chưa có quy hoạch được duyệt của Thủ Tướng Chính phủ. Vì vậy, dù đá xây dựng phân bố đến độ sâu hơn 300m, thì độ sâu khai thác của các mỏ đều chưa đạt quy hoạch được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt... Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư máy móc, thiết bị và hạ tầng công trình phụ trợ đảm bảo việc khai thác, chế biến VLXD trong diện tích mỏ theo chiều sâu, giúp tăng sản lượng khai thác lên 1,5-2 lần nhưng chưa được cấp phép.
Công trình xây dựng tuyến đường Vành đai 3.
Để giải quyết tình trạng trên, theo ông Đức cần có loạt giải pháp tháo gỡ. Trong đó điểm nghẽn lớn nhất là thiếu một tổ chức tổng hợp nhu cầu và thực hiện vai trò điều tiết của Nhà nước đối với VLXD. Ông Đức cho rằng, trong phát triển kinh tế liên tỉnh, liên vùng của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cần có nội dung về nhu cầu VLXD đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 phù hợp với quy hoạch chung được duyệt.
Đề nghị Nhà nước giải tỏa để có mặt bằng “sạch” trước khi đấu giá quyền khai thác khoáng sản, ông Phan Tấn Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp khoáng sản TP Hồ Chí Minh cho biết, Nhà nước đấu giá quyền khai thác khoáng sản trong lòng đất nhưng mặt đất phía trên lại thuộc quyền sử dụng của tổ chức, cá nhân khác. Điều này đẩy doanh nghiệp trúng đấu giá khai thác mỏ vào thế rất khó khăn. Dù Luật Đất đai 2024 quy định thu hồi đất cho hoạt động khoáng sản, nhưng thực tế quy trình thu hồi đất của tổ chức, cá nhân rất phức tạp, kéo dài và khó dứt điểm. Doanh nghiệp thường xuyên bị ép giá đền bù gấp 5 - 10 lần giá thị trường, dẫn đến nhiều dự án trúng đấu giá nhưng bị treo vì không thể thỏa thuận đền bù, không thể hoàn thiện thủ tục cấp phép khai thác, gây lãng phí lớn nguồn lực xã hội và tài nguyên khoáng sản. Chi phí tăng cao cũng là yếu tố khiến giá VLXD khó có thể đứng yên, nhất là trước tình trạng khan hiếm thời gian qua.
Ngoài việc bị cản trở về tiến độ hoàn thành, thì công trình, dự án đầu tư công trọng điểm nào cũng hầu như phải bố trí dự phòng cả trăm, cả nghìn tỷ đồng cho yếu tố trượt giá VLXD. Ngược lại, doanh nghiệp khai thác mỏ cũng gặp không ít khó khăn trước câu chuyện khan hiếm VLXD, giá bán bị đẩy lên cao. Đây là nghịch lý cần sớm được các bộ, ngành, địa phương liên quan giải quyết.
Bảo Sơn
Nguồn CAND : https://cand.com.vn/thi-truong/cong-trinh-trong-diem-o-phia-nam-van-doi-mat-voi-nguy-co-thieu-cat-da-xay-dung--i799912/