'Của để dành' ở Tà Năng

'Của để dành' ở Tà Năng
7 giờ trướcBài gốc
Đàn trâu của ông Ya Thương
Trụ cột kinh tế của các tộc người
Buổi sáng ở Tà Năng bắt đầu bằng tiếng lục lạc leng keng vọng ra từ những triền đồi còn đẫm sương. Khi những đoàn khách trekking đang chuẩn bị hành trình chinh phục “cung đường đẹp nhất Việt Nam”, thì ở các thôn người Churu, Nùng, K’ho, một nhịp sống khác đã vào guồng: trâu, bò được lùa ra bãi chăn.
Trong căn nhà đơn sơ ở thôn Tuo Néh, ông Ya Thương, 63 tuổi, người dân tộc Churu thong thả bỏ nước, đồ ăn trưa vào gùi chuẩn bị đi chăn trâu. Cuộc đời ông gắn với ruộng lúa, nương cà phê và… đàn trâu. Năm 1995, khi kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn, ông bắt đầu nuôi trâu. Từ vài con ban đầu, đến nay đàn trâu của ông duy trì từ 15 - 20 con.
Ông Ya Thương chia sẻ, nuôi trâu không phải bán theo năm mà là của để dành. Khi cần tiền cho con cái học hành, làm nhà, hay khi gia đình có việc lớn thì bán vài con.
Đàn trâu của nhà ông Ya Thương mỗi năm sinh sản từ 2 - 3 con. Không chỉ mang lại nguồn thu trực tiếp, đàn trâu còn giúp gia đình ông tiết kiệm đáng kể chi phí sản xuất. Xưa ông dùng trâu cày bừa ruộng, nay ông tận dụng phân chuồng bón cho cây trồng, thậm chí còn bán bớt phân cho những hộ xung quanh.
Nguồn thu nhập của gia đình ông còn đến từ 1 ha cà phê, thêm vài sào ruộng lúa. Đất không rộng nên ông trồng được 1 sào cỏ làm thức ăn bổ sung cho đàn vật nuôi, còn lại tận dụng rơm sau thu hoạch lúa. Công chăm sóc chủ yếu là người trong nhà. Chăn nuôi, trồng trọt của gia đình ông hình thành vòng tròn hỗ trợ nhau, giúp giảm chi phí, tận dụng tối đa phụ phẩm nông nghiệp.
Với ông Ya Thương, đàn trâu không chỉ là tài sản lớn nhất mà còn là thứ ông “chia lại” cho các con khi dựng vợ, gả chồng, một cách tích lũy rất riêng của người bản địa.
Cách thôn Tuo Néh không xa, ông Ya Phin ở thôn Ma Bó (xã Tà Năng) được xem là một trong những hộ chăn nuôi gia súc tiêu biểu của vùng. Ông bắt đầu nuôi trâu, bò từ năm 2009, có thời điểm đàn gia súc của gia đình lên tới hơn 50 con. “Có những thời điểm nuôi nhiều lắm nhưng mình cũng phải tính toán, giữ đàn vừa sức chăm sóc”, ông Ya Phin nói. Hiện nay, gia đình ông duy trì 10 con bò và 13 con trâu. Đàn trâu, bò của ông có 6 con sắp sinh. Năm ngoái, ông bán 5 con, thu về gần 100 triệu đồng.
Ngoài chăn nuôi, ông Ya Phin có 1,5 ha cà phê, mỗi vụ thu khoảng 3,4 tấn. Phân chuồng từ trâu, bò được tận dụng bón cho cây cà phê, giúp giảm chi phí phân bón hóa học. Gia đình ông còn làm 4 sào ruộng lúa vừa có gạo ăn, vừa có rơm làm thức ăn cho gia súc. Nhiều năm nay, với ông Ya Phin, trâu, bò là nguồn thu ổn định nhất, ít rủi ro hơn so với cây trồng trong điều kiện thời tiết ngày càng khắc nghiệt.
Cách tích lũy bằng đàn trâu, bò của ông Ya Thương, Ya Phin cũng là cách làm phổ biến của nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở Tà Năng trước rủi ro mùa vụ và biến động thị trường. Với cách chăn thả tự nhiên, từ 15 - 20 tháng, trâu, bò nơi đây sinh sản 1 lần.
Theo đánh giá của người chăn nuôi và thị trường, trâu, bò được chăn thả trên đồng cỏ tự nhiên, vận động nhiều nên cơ thịt săn chắc, vân thịt rõ, màu đỏ đậm, mỡ ít. Thịt có vị ngọt tự nhiên, đậm đà, hương thơm đặc trưng, khác biệt so với thịt gia súc nuôi nhốt bằng thức ăn công nghiệp.
Thịt trâu, bò chăn thả tự nhiên ngày càng được người tiêu dùng quan tâm nhờ chất lượng và giá trị dinh dưỡng vượt trội. Phát hiện điều đó, hộ kinh doanh chế biến thực phẩm Tà Năng - Phan Dũng đã mạnh dạn đầu tư máy móc, thiết bị chế biến ra sản phẩm thịt bò sấy vị cà phê Tà Năng - Phan Dũng. Tuy nhiên, dù sản phẩm thịt bò sấy vị cà phê Tà Năng - Phan Dũng đã được chứng nhận OCOP 3 sao và được thị trường đánh giá cao về chất lượng, hương vị nhưng đầu ra hiện nay chưa thực sự ổn định. Điều này đặt ra yêu cầu cần có thêm các giải pháp hỗ trợ kết nối tiêu thụ, quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường để sản phẩm đặc trưng của địa phương phát huy được lợi thế và giá trị.
Vùng chăn thả lớn nhất khu vực
Theo thống kê, toàn xã Tà Năng hiện có đàn trâu, bò gần 9.000 con. Trong đó, 2.577 con trâu và 6.270 con bò. Với quy mô này, Tà Năng được xem là vùng chăn nuôi trâu, bò lớn so với nhiều khu vực lân cận. Những năm gần đây, chính quyền xã đã hỗ trợ, đồng hành với người dân trong việc phòng, chống dịch bệnh trên trâu, bò theo mùa. Nhờ đó, người dân yên tâm chăn nuôi.
Ông Nguyễn Tiến Điền - Bí thư Đảng ủy xã Tà Năng đánh giá, chăn nuôi đàn gia súc lớn đã được địa phương xác định là một trong những trụ cột kinh tế và đưa vào nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo. Trên cơ sở lợi thế đồng cỏ dưới tán rừng và quỹ đất chăn nuôi còn tương đối lớn với khoảng 1.500 ha, xã đang quy hoạch các vùng chăn nuôi tập trung, đồng thời kêu gọi doanh nghiệp đầu tư với quy mô từ 20 - 50 ha trở lên, nhằm hình thành chuỗi liên kết giữa người dân và doanh nghiệp.
Tà Năng đã có một số doanh nghiệp chăn nuôi lớn quan tâm, mở ra kỳ vọng hình thành các mô hình chăn nuôi quy mô lớn, liên kết với người dân địa phương. Tuy nhiên, hiện nay, chăn nuôi hộ gia đình vẫn chiếm chủ yếu, phù hợp với tập quán sản xuất và điều kiện của đồng bào dân tộc thiểu số.
Điểm đặc biệt trong chăn nuôi ở Tà Năng là sự gắn kết chặt chẽ giữa trồng trọt và chăn nuôi. Gia súc không chỉ mang lại giá trị từ thịt, giống mà còn cung cấp phân bón, góp phần hình thành một vòng sản xuất khép kín, giúp người dân ổn định đời sống.
Với nhiều du khách, Tà Năng là những đồi cỏ uốn lượn, là biển mây bồng bềnh lúc bình minh. Với 78% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, nơi đây còn là miền đất của trâu, bò, của những gia đình âm thầm gây dựng sinh kế bền bỉ qua năm tháng.
Tà Năng đang dần trở thành vùng chăn nuôi đặc thù, nơi sinh kế truyền thống được nâng tầm thành động lực phát triển, bổ trợ cho du lịch sinh thái và góp phần định hình một mô hình phát triển hài hòa giữa con người, rừng, thị trường.
Nông dân Tà Năng thu nhập chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp với khoảng 6.088 ha đất gieo trồng. Trong đó, có hơn 2.500 ha cà phê, 1.050 ha lúa, khoảng 400 ha cây ngắn ngày...
Ghi chép: Đức Hùng .
Nguồn Lâm Đồng : https://baolamdong.vn/cua-de-danh-o-ta-nang-414773.html