Lễ hội Kỳ yên ở xã Lục Ngạn, tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Thành Đạt
Mặc dù số dân không nhiều, song nhiều xóm làng của người Ngái vẫn giữ được những nét đặc trưng truyền qua các thế hệ. Đồng bào dựa vào kinh nghiệm truyền đời và những dấu hiệu thiên nhiên như tiếng chim, mùa hoa nở, lá cây rừng... để sản xuất nông nghiệp, đồng thời giỏi những nghề thủ công như dệt chiếu, làm mành trúc, rèn, mộc, nung vôi, làm gạch ngói... Họ vẫn giữ cách bài trí nhà cửa theo lệ xưa và rất coi trọng việc thờ cúng tổ tiên cùng các loại “thần”, “ma”... Các gia đình đều có bàn thờ tổ tiên, thôn xóm nào cũng có đền, chùa. Đạo Khổng, đạo Lão, đạo Phật ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của bà con. Trong các thôn xóm, bao giờ cũng có một người trưởng tộc đứng ra quyết định, điều hành mọi việc lớn nhỏ trong thôn.
Người Ngái tổ chức ăn Tết Nguyên đán như nhiều dân tộc khác. Họ chuẩn bị ăn Tết ngay sau ngày 23 tháng Chạp. Bà con cũng có tục gói bánh chưng, giã bánh giầy và làm chè lam; có tục xông đất, xuất hành đầu năm; kiêng cãi cọ, kiêng quét nhà trong những ngày đầu năm mới như người Kinh... Điểm độc đáo là đến trưa ngày 30 tháng Chạp, họ sẽ dùng giấy đỏ bao gói các nông cụ để niêm phong. Đúng thời khắc giao canh của đêm Giao thừa, các gia đình làm lễ cúng đón ông Táo trở về và mời tổ tiên cùng hưởng Tết. Sáng mùng 1, mọi người cùng tụ họp tại nhà trưởng tộc, rồi tỏa đi chúc Tết, vui xuân.
Ngoài ra, họ còn có Tết Hàn Thực, mùng 3 tháng 3 âm lịch; Tết Đoan Ngọ, mùng 5 tháng 5 âm lịch; lễ Vu lan, ngày 15 tháng 7 âm lịch; Tết Cơm mới, mùng 10 tháng 10 âm lịch. Và nhắc đến người Ngái, sẽ là thiếu sót nếu không đề cập đến lễ Kỳ yên-một nét văn hóa tín ngưỡng đặc sắc, thường được tổ chức vào dịp đầu năm mới, cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng sinh sôi, tươi tốt, mọi nhà, mọi người được bình an, vạn sự như ý... Lễ hội độc đáo này được chuẩn bị khá cầu kỳ và đặc biệt không thể thiếu bức tranh Tam thanh Ngọc đế, gồm các vị thần linh tối cao của Đạo giáo là Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Thiên Tôn và Đạo Đức Thiên Tôn.
Ông Thẩm Dịch Thọ ở xóm Tam Thái, xã Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên giải thích rằng, sở dĩ có những nông cụ trong mâm đồ lễ tế là bởi bà con tin rằng “vạn vật hữu linh”. Vì vậy, ngoài các món dâng cúng được chế biến từ lương thực, thực phẩm do bà con tự tay gieo trồng, chăn nuôi, mâm lễ còn có một số dụng cụ lao động sản xuất và nhạc cụ truyền thống của dân tộc. Những năm khó khăn, bà con không tổ chức được lễ Kỳ yên, nhưng từ khi Chính phủ triển khai Đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 theo Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 của Quốc hội khóa XIV, lễ hội này đã được phục dựng và tiếp tục được bảo tồn trong nhiều năm qua.
Nếu đến với xã Lục Ngạn, tỉnh Bắc Ninh hay xã Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên vào mùa xuân, du khách sẽ có cơ hội được chứng kiến lễ Kỳ yên rộn ràng. Từ sáng sớm, khi sương còn bảng lảng trên đỉnh núi Cái, các gia đình ở Tam Thái đã nổi lửa chuẩn bị mâm cúng trong ngày trọng đại. Cụ Hoa Huân, một bậc trưởng thượng ở làng cho biết, lễ vật dâng lên thần linh và tổ tiên của người Ngái rất giản dị nhưng thể hiện sự kính ngưỡng và lòng biết ơn sâu sắc. Trước đây, các xóm cùng mổ bò, giết lợn để làm lễ cúng chung. Nhưng ngày nay, ngoài mâm lễ chính, các gia đình có xu hướng chuẩn bị những mâm lễ nhỏ hơn để sau lễ cúng có thể cùng gia đình thụ lộc.
Khi những mâm lễ đã được bày biện đẹp mắt, đầy đủ những vật phẩm theo quy định, người chủ lễ, đầu đội mũ hòa thượng, mặc áo cà sa, sẽ đi kiểm tra lần cuối. Khi mọi việc đã chu tất, chủ lễ sẽ tự tay dâng hương. Khi hương thơm lan tỏa, đội phụ lễ sẽ đồng loạt khua thanh la, thổi tù và. Trong nhịp điệu khi khoan thai, lúc dồn dập ấy, chủ lễ dẫn đầu một đoàn người từ 5 đến 10 thanh niên khỏe mạnh đi vòng quanh sân lễ theo hình bát quái, vừa đi vừa múa hát.
Lời bài hát mang nội dung báo cáo với thần linh về kết quả sản xuất trong một năm qua của bà con, tạ ơn các đấng linh thiêng đã ban cho dân làng một năm bình an, may mắn, đồng thời cầu mong một năm mới mọi nhà, mọi vật đều hưng thịnh. Tính cố kết cộng đồng còn thể hiện rõ nét khi toàn thể dân làng cùng tham gia thực hành nghi lễ, cùng khấn nguyện điều lành, no ấm, bình an cho mọi người. Ngoài lễ chính vào mùa xuân, trong năm vẫn có một số gia đình tự mời thầy về làm lễ cầu an, giải hạn cho các thành viên nếu không may có sự cố hoặc điềm gở trong nhà.
Thanh niên dân tộc Ngái trong trang phục truyền thống. Ảnh: Thành Đạt
Điều đáng mừng là mặc dù người Ngái ở Bắc Ninh và Thái Nguyên không còn thường xuyên sử dụng tiếng Ngái trong đời sống sinh hoạt thường ngày, nhưng tiếng nói của họ vẫn được bảo tồn ít nhiều trong các làn điệu dân ca, hát giao duyên được gọi là Sường cô hay Xướng ca. Hình thức sinh hoạt văn hóa này khá lãng mạn, với những ca từ trong sáng, tình cảm và bao hàm nhiều nội dung răn dạy cách ứng xử, kinh nghiệm làm ăn. Thậm chí, người hát có thể ngẫu hứng sáng tác thêm lời mới cho Sường cô nên trai gái Ngái có thể hát đối nhau 5 đến 7 đêm liền mà vẫn không bị trùng lặp. Kho tàng văn học dân gian của người Ngái cũng khá phong phú, với nhiều truyền thuyết, truyện cổ tích, thành ngữ, tục ngữ... thể hiện quan niệm của họ về thế giới quan, nhân sinh quan. Những trò chơi dân gian như múa sư tử, múa gậy, rồng rắn từng rất vui nhộn, song ngày nay, bà con ít sử dụng nên đã bị mai một nhiều.
Người Ngái ở đây chuộng gạo tẻ mà họ gọi là “trám cục”, trồng trên các thửa ruộng lầy “sùi thẻn” quanh núi Cái với vụ chiêm và vụ mùa. Gạo sau khi được nấu qua một lượt nước sôi sẽ được vớt ra để hong chín bằng phương pháp cách thủy. Phần nước cơm còn lại sẽ được dùng làm nước uống giải khát, gọi là “mì canh”. Thực phẩm ăn kèm là các loại thịt, trứng, cá, rau... được chế biến theo cách thức khá cầu kỳ. Trong bữa ăn của người Ngái, con gái hay nàng dâu không phải dọn mâm ăn riêng mà được phép ngồi chung với cha và các anh em trai của chồng.
Cũng giống như lễ hội của các dân tộc khác, lễ Kỳ yên của người Ngái không chỉ là một nghi thức tâm linh, một hình thức sinh hoạt tôn giáo bản địa, mà còn là sự kết nối giữa con người với thần linh, giữa con người với thiên nhiên và giữa các thành viên trong cộng đồng. Đây cũng là dịp để người trong họ, ngoài làng thắt chặt tình cảm gia đình, cùng tề tựu bên nhau khấn nguyện bình an và thưởng thức mâm cơm ấm cúng, chia sẻ những vui buồn trong năm cũ. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, người Ngái đã và đang nỗ lực để vừa hòa nhịp với đời sống chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, vừa lặng lẽ, bền bỉ bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc mình.
Phạm Vân Anh