Theo những gì được mô tả, hội đồng này không chỉ làm nhiệm vụ quan sát, mà còn được kỳ vọng trở thành đầu mối giám sát thực thi thỏa thuận, điều phối bước sang giai đoạn hai, và giám sát một mô hình quản trị kỹ trị của người Palestine trong thời kỳ chuyển tiếp.
Nếu nhìn thuần lý thuyết, đây là cách làm quen thuộc: tạo một cơ chế trung gian để giảm ma sát trực tiếp giữa các bên đối địch, đồng thời dựng một “xương sống điều hành” giúp viện trợ, an ninh, tái thiết không bị tê liệt vì mỗi bên hiểu một kiểu. Nhưng thực địa Trung Đông không vận hành bằng lý thuyết thuần túy. Một thiết chế trung gian chỉ mạnh khi nó có hai thứ: thẩm quyền đủ rõ và trách nhiệm đủ cụ thể. Thiếu một trong hai, nó trở thành phòng họp của bất đồng.
Xe tải của Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) chở bột mì cứu trợ vào Gaza khi ngừng bắn có hiệu lực. Ảnh: WFP.
Nhân vật được nhắc đến nhiều nhất trong cấu trúc đó là ông Nickolay Mladenov, cựu Điều phối viên đặc biệt của Liên hợp quốc (LHQ) về tiến trình hòa bình Trung Đông giai đoạn 2015–2020 và được chọn làm người điều hành “Hội đồng Hòa bình” để giám sát một giai đoạn hai rất phức tạp, bao gồm cả việc hình thành một chính quyền kỹ trị Palestine, triển khai lực lượng an ninh quốc tế và lộ trình rút quân.
Những chi tiết này cho thấy thông điệp chính trị rõ ràng: Washington muốn đặt một “điều phối viên có hồ sơ”, đủ quen chiến trường ngoại giao Gaza để nói chuyện với các bên, đủ thực dụng để chuyển khẩu hiệu thành lịch trình và cơ chế. Nhưng chính việc phải chọn một “người chuyển ngữ” như vậy lại phơi bày khó khăn: bản thân các bên vẫn chưa thống nhất đích đến.
Ở đây, tam giác bế tắc không nằm ở câu chữ, mà nằm ở mục tiêu tối hậu. Thủ tướng Benjamin Netanyahu công khai đặt điều kiện giải giáp Hamas, đồng thời phản đối việc Gaza do Hamas cai trị và cũng không muốn Chính quyền Palestine quay lại theo cách mà Tel Aviv coi là rủi ro. Trong khi đó, kế hoạch theo hướng của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump lại được mô tả là vẫn hình dung khả năng Chính quyền Palestine nắm quyền quản trị Gaza về lâu dài, dù Israel phản đối.
Chỉ riêng sự lệch pha này đã đủ khiến mọi cơ chế trung gian bị kéo căng: hội đồng càng “ngả” về phương án Palestine, Israel càng kháng cự; hội đồng càng “ngả” về điều kiện giải giáp cứng rắn, Hamas càng bác bỏ; hội đồng càng chọn giải pháp đứng giữa, nó càng thiếu chân đế chính trị để vận hành. Vì thế, câu hỏi cốt lõi không phải “có lập hội đồng hay không”, mà là hội đồng sẽ giải được bài toán quyền lực nào. Bài toán đầu tiên là độc quyền bạo lực hợp pháp. Một mô hình quản trị chuyển tiếp chỉ tồn tại nếu có một chủ thể được thừa nhận có quyền thực thi trật tự: kiểm soát vũ khí, kiểm soát an ninh khu dân cư, quản lý trật tự công cộng, và phối hợp với các tuyến biên giới.
Nếu “Hội đồng Hòa bình” chỉ là một ban giám sát không có công cụ cưỡng chế, nó sẽ nhanh chóng biến thành nơi ghi nhận vi phạm. Nếu hội đồng muốn có công cụ cưỡng chế, nó phải trả lời câu hỏi cực nhạy: lực lượng nào sẽ làm nhiệm vụ đó, ủy nhiệm từ đâu, quy tắc sử dụng vũ lực ra sao, ai trả chi phí, ai chịu trách nhiệm chính trị khi có thương vong. Đây là lý do vì sao “lực lượng ổn định quốc tế” được nhắc tới nhiều, nhưng triển khai được hay không lại là phép thử khó nhất của giai đoạn hai.
Bài toán thứ hai là biên giới, viện trợ và dòng hàng. Thực địa Gaza cho thấy chỉ cần một nghẽn nhỏ về cửa khẩu, thủ tục, hoặc kiểm soát hàng hóa “lưỡng dụng”, là khủng hoảng nhân đạo lập tức dâng cao, kéo theo áp lực chính trị và nguy cơ bạo lực. Tình trạng chậm trễ mở lại biên giới như một trong những trở ngại của giai đoạn đầu. Đồng thời, tranh cãi về hoạt động nhân đạo và khả năng các tổ chức hỗ trợ bị hạn chế lại đẩy hội đồng tương lai vào tình thế tiến thoái lưỡng nan: nới kiểm soát thì bị lo ngại an ninh; siết kiểm soát thì viện trợ tắc, xã hội kiệt quệ, bất ổn lại tăng.
Các tuyên bố gần đây từ phía châu Âu về mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng nhân đạo và nhu cầu thúc đẩy giai đoạn hai phản ánh rõ áp lực phải “mở đường” cho viện trợ song hành với thiết kế an ninh. Bài toán thứ ba là tính chính danh của bộ máy điều hành Gaza sau ngừng bắn. Một ủy ban kỹ trị Palestine có thể quản lý điện, nước, bệnh viện, trường học; nhưng kỹ trị không tự tạo ra tính chính danh.
Trong một không gian bị chiến tranh băm nhỏ, chính danh đến từ khả năng bảo đảm an toàn tối thiểu và từ cảm nhận “ai đại diện cho ai”. Nếu cơ chế chuyển tiếp quá phụ thuộc vào bên ngoài, nó dễ bị nhìn như quản trị thay thế; nếu quá phụ thuộc vào một cấu trúc Palestine, nó vấp phản đối từ Israel; nếu cố đứng giữa bằng cách “không thuộc về ai”, nó lại thiếu nguồn lực cưỡng chế và thiếu sự thừa nhận chính trị. “Hội đồng Hòa bình”, xét theo mô tả, muốn đứng ở vai trò giám sát để dung hòa. Nhưng chính vai trò dung hòa ấy lại thường là nơi dễ mắc kẹt nhất: làm gì cũng có thể bị coi là “thiên vị”, còn không làm gì thì bị coi là vô dụng.
Một nghịch lý khác đang lộ dần là: hội đồng được kỳ vọng tạo ra trách nhiệm rõ ràng, nhưng bản thân nó có nguy cơ làm trách nhiệm loãng đi. Càng nhiều chủ thể tham gia, càng nhiều “đầu mối” và “cơ chế phối hợp”, thì khi xảy ra vi phạm, ai là người chịu trách nhiệm cuối cùng? Ai có quyền ra quyết định nhanh sau một sự cố? Nếu mọi quyết định đều phải qua tham vấn nhiều tầng, thực địa sẽ chạy nhanh hơn cơ chế; còn khi cơ chế chạy chậm, các bên sẽ quay về công cụ cũ: trả đũa, áp lực quân sự, và tuyên truyền. Đây là lý do một thiết chế giám sát muốn sống được phải có “đường tắt” ra quyết định trong khủng hoảng, cùng những tiêu chí đủ minh bạch để hạn chế tranh cãi bất tận về câu chữ.
Điều làm câu chuyện càng thời sự là thực địa vẫn liên tục phát tín hiệu ngược: ngừng bắn còn bị cáo buộc vi phạm, thương vong dân sự vẫn được báo chí quốc tế ghi nhận, và mỗi vụ việc như vậy đều bào mòn niềm tin vào mọi cơ chế đang được vẽ ra. Trong môi trường đó, “Hội đồng Hòa bình” sẽ không được đánh giá bằng việc nó được tuyên bố long trọng ra sao, mà bằng việc nó xử lý được bao nhiêu sự cố nhỏ trước khi sự cố nhỏ biến thành đổ vỡ lớn. Một cơ chế tốt là cơ chế khiến các bên thấy “phá vỡ thỏa thuận” đắt hơn “giữ thỏa thuận”, không chỉ trên truyền thông mà cả trong lợi ích cụ thể: viện trợ, tái thiết, trao đổi con tin – tù nhân, rút quân theo lộ trình, và an ninh dài hạn.
Có thể hình dung ba nấc thời gian sẽ quyết định số phận của thiết kế này. Trong vài ngày đầu sau khi cơ chế được định hình rõ hơn, câu hỏi là thẩm quyền và cấu trúc: hội đồng có quyền gì, ai tham gia, cơ chế ra quyết định thế nào, và ai “đứng mũi chịu sào” khi có khủng hoảng. Ngay sau đó, trong một đến hai tuần, phép thử mang tính đời sống: cửa khẩu và viện trợ có thông hơn không, các điểm nghẽn thủ tục có được giải hay không, tần suất cáo buộc vi phạm có giảm hay không. Rồi trong khoảng một tháng, phép thử thuộc về nút thắt cứng: an ninh thay thế, lộ trình rút quân, cơ chế quản trị kỹ trị Palestine có vận hành ổn định không, và đặc biệt là “kịch bản xấu” đã được chuẩn bị chưa: nếu xảy ra một vụ việc nghiêm trọng, cơ chế có đủ nhanh và đủ thẩm quyền để ngăn leo thang hay không.
Gaza sẽ không có hòa bình chỉ vì có thêm một thiết chế. Nhưng Gaza cũng khó có hòa bình nếu không có một thiết kế quyền lực đủ rõ để biến ngừng bắn thành trật tự, biến viện trợ thành nhịp sống, và biến tranh chấp thành đàm phán thay vì trả đũa. “Hội đồng Hòa bình” của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump vì vậy là một phép thử kép: thử khả năng của Washington trong việc dựng một cơ chế có trách nhiệm rõ ràng, và thử mức độ sẵn sàng của các bên tại chỗ chấp nhận một cấu trúc ràng buộc họ vào những giới hạn mới.
Nếu hội đồng chỉ là thêm một tầng trung gian, nó sẽ nhanh chóng bị thực địa nghiền mòn, để rồi các bên quay lại vòng lặp cũ. Nhưng nếu hội đồng được thiết kế để quyền lực đi kèm trách nhiệm, để quyết định đi kèm khả năng thực thi, và để nhân đạo không bị biến thành công cụ mặc cả, nó có thể tạo ra điều Gaza thiếu nhất trong nhiều tháng qua: một “đường ray” đủ chắc để mọi bước đi không trượt khỏi bàn đàm phán.
Khổng Hà