TAND Tối cao vừa ban hành Quyết định số 162/QĐ-CA, công bố 8 án lệ đã được Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thông qua.
Các tòa án có trách nhiệm nghiên cứu, áp dụng các án lệ này trong xét xử kể từ ngày 1-7-2026. Việc áp dụng án lệ được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 8 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18-6-2019 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 02/2025/NQ-HĐTP ngày 27-6-2025 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao).
Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm khi xe cháy
Thứ nhất, Án lệ số 83/2026/AL về trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm khi cơ quan có thẩm quyền chưa xác định được người gây ra thiệt hại về tài sản
Tình huống án lệ: Hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới có hiệu lực pháp luật. Xe cơ giới bị cháy dẫn đến thiệt hại về tài sản là sự kiện bảo hiểm. Cơ quan giám định kết luận nguyên nhân xe cơ giới bị cháy do con người gây ra. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa xác định được ai là người gây ra thiệt hại về tài sản.
Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, tòa án phải xác định doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho người được bảo hiểm, nhưng được bảo lưu quyền yêu cầu bồi hoàn hoặc được chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn tiền bồi thường theo quy định của pháp luật.
Một vụ đầu xe container bốc cháy dữ dội trên đường đã được xử lý. Ảnh: NDCC
Thứ hai, Án lệ số 84/2026/AL về chấm dứt việc nuôi con nuôi là người chưa thành niên khi người nhận con nuôi là người độc thân chết.
Tình huống án lệ: Quan hệ nuôi con nuôi giữa người nhận con nuôi là người độc thân với con nuôi chưa thành niên được xác lập hợp pháp. Sau khi người nhận con nuôi chết, cha mẹ đẻ của con nuôi chưa thành niên yêu cầu tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi.
Giải pháp pháp lý trong trường hợp này là tòa án chấp nhận yêu cầu của cha mẹ đẻ của con nuôi chưa thành niên về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi.
Thứ ba, Án lệ số 85/2026/AL về việc tham gia tố tụng của doanh nghiệp bảo hiểm thành viên theo hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm.
Tình huống án lệ: Hợp đồng nguyên tắc đồng bảo hiểm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm xác định doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu có nghĩa vụ giao kết hợp đồng bảo hiểm với bên mua bảo hiểm, giải quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm và có quyền yêu cầu các doanh nghiệp bảo hiểm thành viên góp tiền bồi thường theo tỷ lệ đồng bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra; không quy định doanh nghiệp bảo hiểm thành viên trực tiếp có trách nhiệm với bên mua bảo hiểm.
Bên mua bảo hiểm không giao kết hợp đồng với các doanh nghiệp bảo hiểm thành viên mà giao kết với doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu và phát sinh tranh chấp hợp đồng này. Quá trình giải quyết vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm, doanh nghiệp bảo hiểm đứng đầu không yêu cầu đưa các doanh nghiệp bảo hiểm thành viên vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Giải pháp pháp lý trường hợp này là tòa án phải xác định các doanh nghiệp bảo hiểm thành viên không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và không đưa vào tham gia tố tụng.
Thứ tư, Án lệ số 86/2026/AL về sự kiện pháp lý làm phát sinh căn cứ để xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.
Án lệ này xoay quanh tình huống: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn (tố chức tín dụng) và bị đơn (doanh nghiệp) đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án, buộc bị đơn phải trả tiền cho nguyên đơn.
Sau đó, cơ quan điều tra xác định người đại diện theo pháp luật của bị đơn có hành vi gian dối trong việc trả nợ để chiếm đoạt tiền của nguyên đơn nên đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với người này và có văn bản, tài liệu kèm theo đề nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nêu trên.
Giải pháp pháp lý trong trường hợp này là tòa án phải xác định quyết định khởi tố bị can và văn bản, tài liệu kèm theo nêu trên của cơ quan điều tra là sự kiện pháp lý làm phát sinh căn cứ để xem xét kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án.
Không được ủy quyền tham gia tố tụng phần tranh chấp nuôi con
Thứ năm, Án lệ số 87/2026/AL về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm.
Tình huống án lệ là việc nguyên đơn (tổ chức tín dụng) ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản là tàu biển với bị đơn (khách hàng). Hai bên thỏa thuận để bên thứ ba sửa chữa, nâng cấp, trông giữ tàu nhằm nâng giá trị tài sản bảo đảm. Bị đơn ký kết hợp đồng với bên thứ ba để thực hiện các công việc trên.
Sau đó, nguyên đơn và bị đơn ký kết hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng ban đầu và hợp đồng thế chấp đối với tàu biển sau khi đã được sửa chữa, nâng cấp. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bên thứ ba) có yêu cầu độc lập yêu cầu thanh toán chi phí phát sinh khi thực hiện việc sửa chữa, nâng cấp, trông giữ tài sản bảo đảm.
Giải pháp pháp lý trong trường hợp này, tòa án phải xác định khi xử lý tài sản bảo đảm thì ưu tiên thanh toán trước cho bên thứ ba chi phí tiền lương của người lao động, tiền thuê và tiền trông giữ tài sản liên quan đến việc sửa chữa, nâng cấp, trông giữ tài sản bảo đảm.
Thứ sáu là Án lệ số 88/2026/AL về ủy quyền tham gia tố tụng trong vụ án tranh chấp về nuôi con.
Trong vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con, đương sự ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng đối với phần tranh chấp về nuôi con.
Trường hợp này, tòa án không chấp nhận việc đương sự ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng đối với phần tranh chấp về nuôi con.
Thứ bảy là Án lệ số 89/2026/AL về việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất đối với tài sản là nhà mua thanh lý để ở trên đất của cơ quan nhà nước.
Cơ quan nhà nước bán thanh lý tài sản là nhà xây dựng trên phần đất trụ sở của cơ quan, không có thỏa thuận về chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trước khi cơ quan có thấm quyền ban hành quyết định thu hồi phần đất này. Bên mua đã sử dụng nhà vào mục đích để ở. Quá trình sử dụng, bên mua đã tạo lập, tôn tạo tài sản mới trên đất. Sau đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã thu hồi phần đất này.
Trong trường hợp này, tòa án phải xác định khi nhà nước thu hồi đất, bên mua tài sản trên đất không đủ điều kiện được bồi thường về đất nhưng được xem xét bồi thường, hỗ trợ đối với tài sản trên đất bị thu hồi.
Án lệ cuối cùng được công bố đợt này là Án lệ số 90/2026/AL về thẩm quyền hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tòa án.
Do sai sót về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất chồng lên phần diện tích đất của người sử dụng đất liền kề đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước đó. Người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng đã chuyển nhượng cho người thứ ba và người thứ ba đã được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất liền kề khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu tòa án tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người thứ ba.
Giải pháp pháp lý trong trường hợp này là tòa án phải xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính và có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người thứ ba, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này.
YẾN CHÂU