PGS.TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam.
Thưa ông, trước áp lực tăng giá, Chính phủ đã triển khai hàng loạt giải pháp hạ nhiệt thị trường như ban hành Nghị định 72/2026, giảm thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) với một số mặt hàng xăng dầu; chi Quỹ bình ổn giá xăng dầu. Lãnh đạo Chính phủ cũng chỉ đạo Bộ Tài chính khẩn trương đề xuất phương án điều chỉnh thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu về mức 0 đồng. Nếu được áp dụng, giá xăng trong nước có thể giảm ngay 2.000 đồng/lít và dầu giảm 1.000 đồng/lít. Ông nhìn nhận như thế nào về vấn đề này?
Điểm đáng giá nhất của biện pháp này là giúp mở rộng không gian nhập khẩu cho doanh nghiệp đầu mối. Trong điều kiện chuỗi cung ứng quốc tế bất ổn, việc giảm thuế MFN về 0% giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong lựa chọn nguồn hàng, không bị bó hẹp quá nhiều vào một vài thị trường ưu đãi thuế theo các Hiệp định thương mại tự do.
Điều này đặc biệt quan trọng khi Bộ Công Thương cho biết, Việt Nam hiện vẫn phải nhập khẩu khoảng 30% nhu cầu xăng dầu trong nước, còn 2 Nhà máy lọc hóa dầu Dung Quất và Nghi Sơn mới đáp ứng khoảng 70% nhu cầu thị trường nội địa. Đây là giải pháp tài khóa đúng lúc, hợp lý và có tác dụng giảm áp lực. Tuy nhiên, để ổn định thị trường một cách bền vững, vẫn phải có các công cụ khác.
Thanh Hóa ổn định thị trường, bảo đảm nguồn cung xăng dầu không bị đứt gãy. Ảnh: Khiếu Tư/TTXVN
Nhìn chung, động thái điều hành và ứng phó của Cơ quan quản lý trong thời gian qua rất kịp thời và đúng hướng, trong bối cảnh nguồn cung năng lượng trên thế giới bị gián đoạn. Cơ quan quản lý đã bám sát diễn biến giá xăng dầu thị trường, chủ động nguồn cung; đồng thời phát thông điệp điều hành theo hướng vừa đảm bảo đủ nguồn cung xăng dầu cho sản xuất, tiêu dùng, vừa hạn chế tác động lan rộng đến mặt bằng giá cả hàng hóa sản xuất trong nước.
Phản ứng của chính sách không chỉ dừng lại ở khâu điều hành giá, mà chú ý hơn đến nguồn cung được đảm bảo, theo dõi sát tâm lý thị trường, yêu cầu doanh nghiệp đầu mối phân phối thực hiện nghiêm trách nhiệm cung ứng.
Nếu chúng ta chỉ quan tâm xử lý phần giá cả, không có các giải pháp nguồn cung, sẽ gây ra nhiều rủi ro. Thời gian tới, Việt Nam cần điều hành tiếp tục linh hoạt, minh bạch hơn và có dự báo tốt hơn. Mục tiêu không chỉ ứng phó trước mắt, mà còn củng cố niềm tin thị trường, giảm tâm lý đầu cơ, găm hàng và tạo điều kiện để doanh nghiệp, người dân chủ động kế hoạch sản xuất và tiêu dùng, trong bối cảnh giá xăng dầu biến động khó lường.
Trong lúc này, theo ông, Việt Nam cần có sự rà soát ra sao để nguồn nhiên liệu được sử dụng hiệu quả hơn, không bị lãng phí. Tiềm năng và dư địa tiết kiệm trong giao thông, vận tải của Việt Nam hiện ra sao?
Theo tôi, cần ưu tiên tiết giảm ở 3 nhóm chính. Nhóm thứ nhất, giảm thiểu sự di chuyển không cần thiết; không dùng những phương tiện kém hiệu quả, tiêu hao tốn nhiều nhiên liệu, vận hành quản lý lỏng lẻo gây lãng phí. Ngược lại, chúng ta không nên tiết giảm cực đoan với những phương tiện vận tải hàng hóa, sản xuất hàng hóa, dịch vụ thiết yếu hoặc trong lĩnh vực giáo dục, y tế và các hoạt động cơ bản của dân sinh.
Nói cách khác, tiết kiệm xăng dầu không chỉ là bớt đi, quan trọng hơn là đi lại và vận chuyển hiệu quả, chi phí thấp, nhưng tác động rất lớn. Điều này vừa giảm áp lực chi phí cho người dân, doanh nghiệp, vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tăng hiệu quả cho nền kinh tế.
Vai trò của Nhà nước, tạo động lực kinh tế cũng như hỗ trợ hiệu quả năng lực hay khuyến khích hộ dân sử dụng tiết kiệm hiệu quả, tăng cường sử dụng các phương tiện giao thông thân thiện môi trường; tiết kiệm năng lượng trở thành thói quen xã hội gắn với vấn đề an ninh năng lượng... Muốn người dân tiết kiệm nhiên liệu hiệu quả, cần phải truyền thông cụ thể tiết kiệm cái gì? tiết kiệm bằng cách nào? Nhà nước có những chính sách khuyến khích, cơ chế và hạ tầng ra sao?
Ông nghĩ sao về việc cần có những phương án để kết nối doanh nghiệp và phòng chống tích trữ xăng dầu?
Theo tôi, phương án tối ưu nhất là lập Sàn giao dịch vận tải... Đặc biệt trong thời đại số, chúng ta có thể tạo App riêng để cung và cầu có thể kết nối dễ dàng. Về dài hạn, Việt Nam cần phải có các giải pháp đồng bộ như đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo; thúc đẩy các nguồn năng lượng thay thế trong giao thông và sản xuất; nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trên toàn bộ nền kinh tế từ công nghiệp, giao thông vận tải đến tòa nhà và hộ gia đình.
Để thị trường xăng dầu vận hành ổn định và bền vững, Việt Nam phải có gói giải pháp đồng bộ, chứ không thể trông chờ vào riêng chính sách thuế.
Theo đó, sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu nhưng phải dùng đúng vai trò là công cụ làm mềm các cú sốc giá ngắn hạn; tăng cường dự trữ và bảo đảm nguồn cung thực chất, bởi ổn định giá mà thiếu hàng thì thị trường vẫn bất ổn; minh bạch cấu thành giá để doanh nghiệp và người dân hiểu rõ phần nào do giá thế giới, phần nào do thuế, chi phí kinh doanh, premium (chất lượng), tỷ giá và các yếu tố kỹ thuật khác. Khi cấu thành giá minh bạch, niềm tin thị trường sẽ tốt hơn và dư địa cho đầu cơ, găm hàng sẽ thu hẹp lại.
Về nguồn cung, đây là khâu đặc biệt quan trọng. Bộ Công Thương cho biết, nguồn nhập khẩu trong tháng 3/2026 cơ bản được bảo đảm, nhưng tháng 4/2026 có thể khó khăn hơn, nếu giá tăng và một số quốc gia hạn chế xuất khẩu để bảo đảm an ninh năng lượng. Điều này có nghĩa là ngoài giá, Việt Nam còn phải quan tâm rất mạnh tới an ninh nguồn cung, bao gồm dự trữ bắt buộc, kiểm tra việc thực hiện tổng nguồn tối thiểu của thương nhân đầu mối và đa dạng hóa nguồn dầu thô cho các nhà máy lọc dầu.
Ở tầm dài hạn hơn, tôi cho rằng, Việt Nam cần hoàn thiện cơ chế điều hành theo hướng thị trường hơn nhưng minh bạch hơn; đồng thời nâng năng lực dự trữ và giảm phụ thuộc vào các cú sốc bên ngoài.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc