Hoàn thiện nền tảng pháp lý
Sáng 12/4, tiếp tục Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Thủ đô (sửa đổi); dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga - đoàn Hải Phòng
Phát biểu tại phiên họp, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga - đoàn Hải Phòng cơ bản nhất trí với sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, thông tin công không còn chỉ tồn tại dưới dạng văn bản, hồ sơ, tài liệu giấy, mà còn tồn tại dưới dạng dữ liệu số, cơ sở dữ liệu dùng chung, dữ liệu liên thông.
"Vì vậy, sửa luật lần này không chỉ là sửa một đạo luật về thủ tục cung cấp thông tin, mà là hoàn thiện nền tảng pháp lý cho quản trị công khai, minh bạch trong kỷ nguyên số" - đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh, đồng thời cho hay, sau thảo luận tổ, Bộ Tư pháp đã có báo cáo giải trình khá chi tiết và chặt chẽ yêu cầu của các đại biểu Quốc hội.
Theo đại biểu, khoản 3 Điều 3 hiện quy định: “Việc cung cấp thông tin phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tăng cường cung cấp thông tin trên môi trường số; bảo đảm việc cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân.”
Khác với một số ý kiến đại biểu Quốc hội lo ngại ứng dụng công nghệ thông tin có thể trở thành rào cản đối với người dân, bà Nga cho rằng, cách quy định này mới dừng ở mức định hướng, thể hiện tinh thần “đẩy mạnh”, “tăng cường” ứng dụng công nghệ thông tin nhưng chưa tạo ra nghĩa vụ pháp lý đủ rõ.
Trong khi đó, nếu đã xác định xây dựng Nhà nước số, công khai thông tin trên môi trường số phải được xem là phương thức chủ yếu, chứ không nên chỉ là phương thức khuyến khích. "Tôi đề nghị nghiên cứu sửa khoản 3 Điều 3 theo hướng nhấn mạnh hơn trách nhiệm công khai trên môi trường số, ít nhất đối với các nhóm thông tin thuộc diện bắt buộc công khai theo Điều 17 của luật này" - đại biểu nêu.
Về các trường hợp thông tin công dân không được tiếp cận tại Điều 15 dự thảo, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhận định, đây là điều khoản rất quan trọng, vì liên quan trực tiếp đến ranh giới giữa bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và việc hạn chế quyền.
Tại khoản 4 Điều 15, dự thảo quy định: “Trường hợp pháp luật chưa quy định, căn cứ vào điều kiện thực tiễn, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cung cấp thông tin”.
Đại biểu băn khoăn với quy định này. Bởi khoản 4 Điều 3 của chính dự thảo đã xác định rất rõ: “Việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định…”. Nếu luật chưa quy định mà lại giao cho người đứng đầu cơ quan xem xét, quyết định, trên thực tế rất dễ dẫn đến tình trạng cơ quan vừa nắm giữ thông tin, vừa tự đánh giá, vừa tự quyết định có cung cấp hay không. Cách thiết kế như vậy chưa thật chặt chẽ.
Vì vậy, đề nghị rà soát lại khoản 4 Điều 15 theo hướng thu hẹp tối đa không gian quyết định mang tính chủ quan của cơ quan có thông tin; trường hợp cần thiết, phải có tiêu chí rõ hơn, cơ chế kiểm soát chặt hơn.
Cũng tại Điều 15, khoản 5 quy định về “thông tin thuộc bí mật công tác do cơ quan, đơn vị xác định theo quy định của pháp luật", đại biểu nhận định, khái niệm “bí mật công tác” hiện chưa thật rõ, chưa được quy định trong hệ thống pháp luật, rất dễ trở thành một “vùng xám” để mở rộng diện thông tin không cung cấp. Do đó, đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục làm rõ, hoặc rà soát để tránh chồng lấn, trùng lặp, thậm chí mở rộng quá mức so với hệ thống pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Thông tin công khai phải dễ tìm kiếm
Về chất lượng thông tin công khai tại Điều 17 dự thảo, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nêu, Điều 17 đã mở rộng đáng kể danh mục thông tin phải công khai. Tuy nhiên, vấn đề hiện nay không chỉ là công khai cái gì, mà còn là công khai như thế nào để người dân thực sự tiếp cận và sử dụng được.
Thực tế, có tình trạng thông tin được đăng tải nhưng ở dạng khó tra cứu, khó trích xuất, khó tái sử dụng; nói cách khác là có công khai nhưng hiệu quả tiếp cận rất thấp.
Vì vậy, đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện Điều 17 theo hướng gắn yêu cầu công khai với yêu cầu về chất lượng dữ liệu, nhất là trong môi trường số; cần hướng đến thông tin công khai phải dễ tìm kiếm, dễ truy cập, dễ khai thác, chứ không chỉ dừng ở việc “có đăng tải”.
Về thời hạn cung cấp thông tin theo yêu cầu tại Điều 26 dự thảo, bà Nguyễn Thị Việt Nga cho biết, Điều 26 quy định thời hạn cung cấp thông tin là 10 ngày làm việc, trường hợp cần thiết có thể gia hạn nhưng tối đa không quá 10 ngày làm việc.
Quy định này có thể phù hợp với những trường hợp thông tin cần rà soát, tập hợp, xử lý phức tạp. Nhưng đối với thông tin đã có sẵn trên môi trường số, đã được số hóa, thời hạn như vậy còn dài.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga - đoàn Hải Phòng đề nghị nghiên cứu phân loại thời hạn cung cấp thông tin theo tính chất thông tin: Thông tin có sẵn, đã số hóa cần rút ngắn; thông tin phức tạp có thể giữ thời hạn như dự thảo. Làm như vậy sẽ phù hợp hơn với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số.
Quỳnh Nga