Tại đây, Đảng ra công khai hoạt động với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam, có cương lĩnh, đường lối, chính sách đúng đắn phù hợp với thực tiễn của đất nước; đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.
Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II tại kim bình, tuyên quang, tháng 2/1951. (Ảnh tư liệu)
Từ khi lãnh tụ Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, mùa xuân năm 1930 đến Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (2-1951) đã qua 21 năm Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam; đã trải qua hơn 5 năm Đảng lãnh đạo chính quyền Nhà nước kể từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và cũng là 5 năm kiên cường kháng chiến bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nền độc lập thiêng liêng của Tổ quốc.
Nếu Hội nghị thành lập Đảng 1930 số đảng viên của Đảng mới 310 đồng chí, Đại hội I của Đảng (1935) số đại biểu là 13, thay mặt cho 552 đảng viên của toàn Đảng và cả 2 sự kiện trọng đại đó đều diễn ra trên đất nước bạn (Trung Quốc), thì Đại hội II của Đảng (11 - 19/2/1951) được tổ chức ở trung tâm khu tự do rộng lớn, với hơn 200 đại biểu, đại diện cho hơn 76 vạn đảng viên. Chỉ riêng số lượng đảng viên của Đảng và số đại biểu dự Đại hội đã cho thấy sự trưởng thành lớn mạnh của Đảng và tầm thế của Đại hội II.
Đại hội II của Đảng họp trong hoàn cảnh phải lãnh đạo kháng chiến để hoàn thành giải phóng dân tộc, song từ năm 1945 Đảng đã trở thành Đảng lãnh đạo chính quyền, Đảng cầm quyền. Đảng Cộng sản đang lãnh đạo một Nhà nước cách mạng kiểu mới -
Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước hợp pháp, hợp hiến kể từ khi diễn ra Đại hội quốc dân ở Tân Trào (8/1945) và nhất là toàn dân bầu Quốc hội khóa I (6/1/1946), lập Chính phủ chính thức (2/3/1946) và Quốc hội thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập (9/11/1946): Chính địa vị lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ càng khẳng định vị thế của Đảng đối với đất nước và dân tộc. Đại hội II của Đảng là sự khẳng định trên thực tế vị thế vẻ vang đó, vì vậy tầm vóc của Đại hội II của Đảng là rất to lớn.
Đại hội Đảng lần thứ II (2/1951) họp trong hoàn cảnh quốc tế có những thuận lợi cho cách mạng Việt Nam và mối quan hệ quốc tế của Đảng, Nhà nước ta mở rộng, phát triển. Đảng, Nhà nước, cách mạng và kháng chiến của Việt Nam đứng vào đại gia đình các nước dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa. Dự Đại hội II có đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc và đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Xiêm (Thái Lan). Tầm vóc quốc tế của Đảng và của Đại hội được nâng cao và khẳng định khi cách mạng Việt Nam phá thế bị chủ nghĩa đế quốc bao vây.
Trong Diễn văn khai mạc Đại hội II, đồng chí Tôn Đức Thắng nêu rõ: “Tình hình cách mạng Đông Dương có những thay đổi căn bản, nhất là sau Cách mạng Tháng Tám, Việt Nam không còn là thuộc địa của Pháp, Miên, Lào cũng có Chính phủ kháng chiến, có Mặt trận dân tộc, có khu căn cứ. Hoàn cảnh lại cho phép Đảng ra công khai”. Sự phát triển của cách mạng và kháng chiến của ba nước ở Đông Dương cho thấy đã đủ điều kiện để xây dựng ở mỗi nước một chính đảng cách mạng riêng để lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của mỗi nước, đồng thời vẫn tăng cường liên minh chiến đấu của ba nước. Ở Việt Nam, Đảng ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam sau đó ở Campuchia xây dựng Đảng Nhân dân cách mạng (28/6/1951) và ở Lào, xây dựng Đảng Nhân dân Lào (22/3/1955) và 1972 đổi tên là Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Đại hội II thể hiện sự trưởng thành, lớn mạnh của Đảng cách mạng ở ba nước Đông Dương và cũng đặt ra những nhiệm vụ to lớn mà Đại hội bàn thảo và quyết định và có ý nghĩa sâu sắc đối với sự phát triển cách mạng ở các chặng đường tiếp theo.
Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng cũng là dịp nhìn lại những ngày đầu Đảng nắm chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám 1945 với những quyết sách về chiến lược và sách lược vô cùng khôn khéo và sáng tạo.
Cùng với Báo cáo chính trị, Đại hội II còn nghe các báo cáo về: củng cố khối đại đoàn kết để chiến thắng; mấy vấn đề cốt yếu của chính quyền dân chủ nhân dân Việt Nam; xây dựng quân đội nhân dân hoàn thành chiến tranh giải phóng; báo cáo về kinh tế tài chính; xây dựng văn nghệ nhân dân Việt Nam; Báo cáo về thi đua ái quốc. Trên cơ sở những báo cáo quan trọng đó mà Đại hội ra các nghị quyết về các chủ trương chính sách lớn để đẩy mạnh kháng chiến, quyết tâm của kháng chiến đến thắng lợi, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chủ đề của Đại hội: “Đại hội ta là Đại hội kháng chiến nhiệm vụ chính của Đại hội ta là đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam”.
đoàn đại biểu đảng bộ tỉnh dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ xiv của đảng.
Tầm vóc và ý nghĩa của Đại hội II thể hiện rất rõ ở sự kết hợp giữa trí tuệ của đội tiền phong lãnh đạo với thực tiễn, hoàn cảnh của cuộc kháng chiến đặt ra và hướng vào giải quyết những vấn đề cơ bản, cụ thể, thiết thực của sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam. Đại hội II đã thể hiện trí tuệ, năng lực, trình độ tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn, coi trọng học tập kinh nghiệm của đồng chí, bè bạn nhưng cũng chú trọng phòng ngừa bệnh giáo điều. Bài học lớn là suy nghĩ và hành động dựa trên nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam. Trên thực tế, Đại hội thể hiện rõ những quan điểm và tư tưởng nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đại hội II khẳng định: “Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong và đạo đức, cách mạng của Hồ Chủ tịch; sự học tập ấy, là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng mạnh và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”.
Với sự tổng kết thực tiễn phong phú, sinh động và với tư duy lý luận khoa học kết tinh trí tuệ của toàn Đảng và thấm nhuần quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại hội II của Đảng (2/1951) làm sáng tỏ con đường phát triển hiện thực của cách mạng Việt Nam, tạo thế và lực mới để kháng chiến kiến quốc đến thành công.
PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc
Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng