Đại sứ Nguyễn Minh Tâm nhấn mạnh sứ mệnh chiến lược của Đại hội XIV của Đảng với báo chí Lào

Đại sứ Nguyễn Minh Tâm nhấn mạnh sứ mệnh chiến lược của Đại hội XIV của Đảng với báo chí Lào
3 giờ trướcBài gốc
Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa là Đại hội định hướng tầm nhìn và chiến lược phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI. (Ảnh: Việt Hoa)
Đại sứ có thể cho biết ý nghĩa và tầm quan trọng của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới?
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam có chủ đề "Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội". Đây là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam, đánh dấu một mốc phát triển mới của đất nước trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đại hội XIV có sứ mệnh hoạch định những quyết sách chiến lược mang tính lâu dài, nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội thể hiện quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong việc thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Trước hết, Đại hội XIV có ý nghĩa là Đại hội định hướng tầm nhìn và chiến lược phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI, cụ thể hóa các mục tiêu lớn đã được xác định: đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đại hội sẽ tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, đồng thời đề ra những chủ trương, giải pháp và các đột phá chiến lược mới, đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường.
Thứ hai, Đại hội XIV có tầm quan trọng đặc biệt trong việc tiếp tục hoàn thiện mô hình phát triển và quản trị quốc gia hiện đại, lấy con người làm trung tâm, mục tiêu và động lực của sự phát triển. Đại hội thể hiện sự hiệu triệu, động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân; định hướng đất nước tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, sâu rộng công cuộc đổi mới để Việt Nam tự tin, tự lực, tự cường, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng Cộng sản Việt Nam tròn 100 năm thành lập (1930-2030); hướng tới hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 để kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945-2045).
Thứ ba, Đại hội XIV thể hiện mục tiêu tổng quát, tư tưởng cốt lõi, xuyên suốt, rõ ràng các thành tố quan trọng nhất như sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của nhân dân và sức mạnh toàn dân tộc; thể hiện sự kiên định tiếp tục công cuộc đổi mới và mục tiêu phát triển đất nước; kế thừa, phát triển các tư tưởng, định hướng đề ra trong các kỳ đại hội trước, đặc biệt là Đại hội XIII.
Có thể khẳng định, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là sự kiện chính trị trọng đại của Đảng và Nhân dân Việt Nam, mà còn là dấu mốc đặc biệt thể hiện sự thống nhất tư tưởng và hành động, lý luận và thực tiễn, kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển; củng cố niềm tin vào Đảng và tương lai của dân tộc Việt Nam; khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của Đảng và sức mạnh của toàn dân tộc Việt Nam; mở ra những cơ hội và động lực phát triển mới, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, đóng góp tích cực hơn nữa vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Tổng Bí thư Tô Lâm hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Lào Thongloun Sisoulith đầu tháng 12/2025. (Ảnh: Nguyễn Hồng)
Xin Đại sứ chia sẻ về thành tựu nổi bật của Việt Nam trong công tác tổ chức triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian qua?
Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự tham gia tích cực của người dân, doanh nghiệp, sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, Việt Nam đã triển khai thành công Nghị quyết Đại hội XIII toàn diện trên các lĩnh vực. Điển hình như quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh Nhân dân và thế trận lòng dân ngày càng bền chặt; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đạt nhiều kết quả nổi bật, đặc biệt là cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021-2025 đạt bình quân khoảng 6,3%/năm, thuộc nhóm cao hàng đầu thế giới. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được đầu tư mạnh mẽ với nhiều công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, năng lượng, hạ tầng số. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đóng vai trò quan trọng, từng bước tạo nền tảng cho đổi mới mô hình tăng trưởng.
Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội, nhận thức về vai trò của văn hóa trong phát triển bền vững ngày càng được nâng cao. Các chính sách an sinh xã hội được triển khai đồng bộ, hiệu quả; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện rõ rệt. Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng 14 bậc, chỉ số hạnh phúc tăng 33 bậc so với đầu nhiệm kỳ. Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân có bước phát triển tích cực, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,2%, tuổi thọ trung bình đạt 74,8 tuổi. Đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt, tỉ lệ nghèo giảm mạnh từ 4,4% (2021) xuống còn 1,3% (2025).
Riêng năm 2025 vừa qua, Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi, đạt và vượt 15/15 chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu, đạt mức tăng trưởng GDP khoảng 8,02%, quy mô GDP năm 2025 ước đạt trên 510 tỷ USD (gấp 1,47 lần GDP năm 2020); GDP bình quân đầu người khoảng 5.000 USD và trở thành một trong điển hình trong phát triển kinh tế – xã hội, đưa Việt Nam gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao.
Đặc biệt, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được triển khai toàn diện, nâng tầm vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Hoạt động đối ngoại đã phát huy vai trò tiên phong, cả hệ thống chính trị đã tích cực tham gia xây dựng nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định và mở ra cục diện phát triển mới cho đất nước. Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân được triển khai toàn diện, đồng bộ, đạt nhiều kết quả nổi bật.
Đến nay, Việt Nam có quan hệ với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ; thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với 42 quốc gia; thiết lập quan hệ với 259 chính đảng ở 119 quốc gia trên thế giới. Lần đầu tiên, Việt Nam thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Đối tác toàn diện trở lên với 18 trong tổng số 21 thành viên Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20).
Trong tổng thể thành công của ngành đối ngoại, nền tảng quan hệ và lòng tin chính trị với nhiều nước, nhất là các nước láng giềng, đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống, tiếp tục được củng cố vững chắc, ổn định.
Đặc biệt là quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện và gắn kết chiến lược Việt Nam-Lào ngày càng phát triển mạnh mẽ, đi vào chiều sâu, hiệu quả, thiết thực trên các lĩnh vực. Quan hệ chính trị – ngoại giao giữa hai nước tiếp tục được tăng cường và ngày càng đi vào chiều sâu. Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước đạt thống nhất cao trong các vấn đề chiến lược, định hướng phát triển quan hệ hai nước, thể hiện qua việc hai bên thống nhất bổ sung nội hàm "gắn kết chiến lược" trong quan hệ song phương nhân chuyến thăm cấp Nhà nước đến Lào của Tổng Bí thư Tô Lâm tháng 12/2025 vừa qua.
Hợp tác quốc phòng – an ninh tiếp tục được mở rộng, là một trong những trụ cột quan trọng của quan hệ Lào-Việt Nam, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng – an ninh và trật tự an toàn xã hội ở mỗi nước. Hai nước cũng phối hợp chặt chẽ, tích cực trao đổi thông tin, ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế. Hợp tác trên các lĩnh vực quan trọng khác như kết nối giao thông, giáo dục – đào tạo, văn hóa, giao lưu nhân dân, du lịch... đều ghi nhận những kết quả tích cực. Tiêu biểu là việc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận Vườn quốc gia Hin Namno (tỉnh Khammouane, Lào) là Di sản thiên nhiên thế giới liên biên giới với Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Trị, Việt Nam), thể hiện nỗ lực chung và là niềm tự hào của hai nước.
Sau Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đại hội XII của Đảng NDCM Lào, với nền tảng quan hệ đặc biệt, sự tin cậy chính trị sâu sắc và nhiều dư địa hợp tác rộng mở, tôi tin tưởng quan hệ hợp tác giữa hai nước sẽ tiếp tục đột phá mạnh mẽ hơn trong thời gian tới, góp phần tích cực vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước; nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của cả Việt Nam và Lào; đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới.
Điệu múa truyền thống của Lào trong chương trình nghệ thuật Chào năm mới 2026. (Ảnh: Hiền Anh)
Đâu là những thành tựu của quan hệ hợp tác Việt Nam-Lào trong lĩnh vực thương mại – đầu tư và du lịch và triển vọng và phương hướng hợp tác hai nước trong thời gian tới, thưa Đại sứ?
Trong lĩnh vực đầu tư, như chúng ta biết Việt Nam luôn là một trong 03 đối tác kinh tế quan trọng nhất của Lào. Lào là địa bàn đầu tư ra nước ngoài lớn nhất trong số 85 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam, với 282 dự án, tổng vốn đăng ký đạt gần 07 tỷ USD. Các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư vào 17/18 tỉnh, thành phố của Lào, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho hơn 100 nghìn lao động; đóng góp ngân sách cho Chính phủ Lào đạt khoảng 200 triệu USD/năm, thực hiện chính sách an sinh xã hội lũy kế đến nay khoảng 200 triệu USD. Về thương mại, Việt Nam luôn là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Lào sau Trung Quốc, Thái Lan. Trong những năm gần đây hợp tác thương mại giữa hai nước đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, cán nhiều mốc mới
Riêng năm 2025, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Lãnh đạo cấp cao hai nước, hợp tác kinh tế, đầu tư, thương mại giữa hai nước được đánh giá là năm "bứt phá mạnh mẽ", với những kết quả quan trọng, nổi bật. Hợp tác đầu tư đã có chuyển biến tích cực, nhiều khó khăn, vướng mắc được phối hợp tháo gỡ kịp thời, công tác xúc tiến đầu tư, thương mại, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc được đẩy mạnh. Vốn đầu tư của Việt Nam sang Lào năm 2025 đạt 773,7 triệu USD, tăng khoảng 4 lần so với cùng kỳ năm 2024. Kim ngạch thương mại Việt Nam-Lào đã đạt mốc khoảng 3 tỷ USD tăng hơn 32,7% so với năm 2024.
Hợp tác trong lĩnh vực du lịch giữa Việt Nam-Lào trong thời gian qua đạt nhiều thành tựu thực chất. Việt Nam hiện là thị trường khách quốc tế lớn thứ hai của Lào với hơn 1,1 triệu lượt khách Việt Nam đã tới thăm Lào trong năm 2025. Tháng 7 năm 2025, UNESCO công nhận Vườn quốc gia Hin Nam No của Lào là Di sản thiên nhiên thế giới liên biên giới với Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng của Việt Nam và là di sản xuyên biên giới đầu tiên tại Đông Nam Á. Cũng trong năm 2025, Lào công nhận Đường Trường Sơn trên đất Lào là di tích lịch sử quốc gia. Hai bên cũng đã phối hợp triển khai, khánh thành và đưa vào sử dụng Công viên Hữu nghị Lào-Việt và tiếp tục tích cực thúc đẩy các dự án hạ tầng giao thông chiến lược như cao tốc Vientiane-Hà Nội và đường sắt Lào-Việt Nam; đầu tư phát triển cảng Vũng Áng nhằm giúp Lào hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia kết nối.
* Về triển vọng, phương hướng hợp tác hai nước trong thời gian tới:
Có thể khẳng định, chúng ta đang đứng trước một vận hội mới đầy mạnh mẽ trong quan hệ hai nước. Như Tuyên bố chung nhân chuyến thăm cấp Nhà nước đến Lào của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Tô Lâm tháng 12/2025 vừa qua đã nhấn mạnh, mục tiêu cốt lõi hiện nay là: "Đưa hợp tác kinh tế – thương mại – đầu tư trở thành trụ cột gắn kết chiến lược mới". Đây là sự nâng tầm mạnh mẽ, từ một "trụ cột quan trọng" trở thành "trụ cột gắn kết chiến lược", nhấn mạnh rằng kinh tế phải là một trong những sợi dây bền chặt nhất để bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước.
Trong giai đoạn 2026 – 2030, tôi tin tưởng chắc chắn rằng với thành công rực rỡ của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV Đảng Cộng sản Việt Nam, hai nước sẽ mở ra một chương mới cho quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện và gắn kết chiến lược giữa hai nước.
Trong lĩnh vực đầu tư, sẽ có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ 'lượng' sang 'chất'. Chúng ta sẽ hướng tới các dự án quy mô lớn, công nghệ cao và chế biến sâu; mở các dòng đầu tư mới vào lĩnh vực ưu tiên như: năng lượng sạch – năng lượng tái tạo, khoáng sản giá trị gia tăng cao, du lịch sinh thái quy mô lớn. Phấn đấu tổng vốn đầu tư Việt Nam vào Lào đạt 10 tỷ USD trong nhiệm kỳ này.
Trong lĩnh vực thương mại, với việc hai bên tăng cường hợp tác sâu rộng và ngày càng thực chất, hiệu quả, kim ngạch thương mại sẽ sớm đạt mốc 5 tỷ USD. Nổi bật lên có thể kể đến sự thành công trong đầu tư các nhà máy sản xuất năng lượng tái tạo như dự án điện gió Trường Sơn với công suất 600MW tại tỉnh Bolikhamxay vận hành thương mại tháng 9/2025 sau 15 tháng triển khai; dự án điện gió Savan 1 với công suất 300MW tại tỉnh Savannakhet vận hành thương mại bán điện sang Việt Nam từ tháng 12/2025 sau 14 tháng triển khai. Hai bên sẽ tận dụng tối đa các ưu đãi giữa hai nước làm động lực đột phá, từ đó góp phần thúc đẩy thương mại song phương ngày càng phát triển thực chất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân hai nước, góp phần vào hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững trong khu vực và trên thế giới.
Hợp tác du lịch giữa hai nước trong giai đoạn mới có rất nhiều triển vọng: Hai bên đang tích cực chuẩn bị đàm phán và ký kết Kế hoạch hợp tác du lịch Việt Nam-Lào giai đoạn 2026-2030. Phương hướng tới đây, hai bên tập trung vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác thay vì chỉ mở rộng số lượng. Hai nước ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch xanh, du lịch nông nghiệp và trải nghiệm văn hóa bản địa. Việt Nam và Lào sẽ lồng ghép chuyển đổi số vào hoạt động quảng bá và quản lý điểm đến; thúc đẩy liên thông dịch vụ số và xây dựng nền tảng dữ liệu chung về văn hóa – du lịch. Định hướng này sẽ giúp hình thành chuỗi cung ứng du lịch khu vực bền vững. Tôi cho rằng, với quyết tâm của cả hai bên, hợp tác du lịch sẽ sớm trở thành một trong những trụ cột then chốt trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam-Lào, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững cho mỗi nước, góp phần vun đắp mỗi quan hệ hợp tác đặc biệt Việt Nam-Lào.
Trân trọng cảm ơn Đại sứ!
Minh Đoàn (thực hiện)
Nguồn TG&VN : https://baoquocte.vn/dai-su-nguyen-minh-tam-nhan-manh-su-menh-chien-luoc-cua-dai-hoi-xiv-cua-dang-voi-bao-chi-lao-348669.html