Từ nhiệm vụ đứng đầu cơ quan khoa học tự nhiên và công nghệ lớn hàng đầu đất nước cho đến việc anh (xin phép được gọi là anh, vì với tôi, anh Minh là anh họ) được Quốc hội tín nhiệm bầu làm Ủy viên Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm UB Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội rồi sau này làm Chủ tịch Liên hiệp hội của toàn thể giới khoa học đất nước trong nhiều năm – bấy nhiêu điều vẫn chưa đủ nói rõ về anh, một nhà khoa học tài năng thực thụ.
Một nhà khoa học tài năng và nghiêm túc
GS, Viện sĩ, TSKH Đặng Vũ Minh sinh tháng 12/1946 trong một gia đình đại trí thức yêu nước, quê tại làng Hành Thiện (Nam Định cũ, Ninh Bình hiện nay).
Cha anh là GS, Bác sĩ Đặng Vũ Hỷ, chuyên gia đầu tiên của Việt Nam về bệnh phong và bệnh da liễu. Ông Hỷ là Chủ nhiệm bộ môn Da liễu Bệnh viện Bạch Mai, giáo sư được tấn phong đợt đầu năm 1956 của Trường Đại học Y Hà Nội, là nhà khoa học đã được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên, năm 1996.
Với "nếp nhà" như vậy, anh Minh được chọn tuyển đi học Đại học Tổng hợp Matxcova (Liên Xô cũ) và tốt nghiệp ĐH năm 1968, tiếp tục hai lần được sang nước bạn làm luận án phó tiến sĩ (1982) rồi tiến sĩ khoa học (1986). Theo các tác giả Hữu Hưng và Phạm Việt Long, công trình khoa học của nghiên cứu sinh Đặng Vũ Minh được các nhà khoa học Liên Xô lúc bấy giờ đánh giá là một phát minh.
Một trong những công trình khoa học nổi tiếng nhất của Giáo sư Đặng Vũ Minh là cuốn sách "Sản phẩm phân hạch của các nguyên tố siêu u-ran trong vũ trụ", được xuất bản bởi Nhà xuất bản Nauka bằng tiếng Nga tại Matxcova vào năm 1984.
Công trình này nghiên cứu về nguồn gốc và phân bố của các nguyên tố siêu u-ran trong vũ trụ cũng như các phương pháp phân tích và xác định chúng, được các nhà khoa học Liên Xô đánh giá cao.
Công trình này cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các lĩnh vực như vật lý hạt nhân, vật lý lượng tử và vật lý thiên văn tại Việt Nam. G.S Lep Conxtantinnovich Lepxki ở Trường đại học Tổng hợp Xanh Pêtecbua nhận xét: “Công trình khoa học của Đặng Vũ Minh mở ra một trang mới trong nghiên cứu phản ứng phân hạch của u-ra-ni trong thiên nhiên. Tác giả công trình đã phân tích một cách hệ thống và kỹ lưỡng các sản phẩm phân hạch dây chuyền của u-ra-ni xảy ra cách đây 2 tỷ năm tại một mỏ u-ra-ni lớn ở Ga-banh (Châu Phi), song còn để lại dấu vết trên Trái đất.
Đặng Vũ Minh đã làm sáng tỏ rất nhiều đặc tính quan trọng của một số sản phảm phân hạch dây chuyền của u-ra-ni trong thiên nhiên; đặc biệt là việc khí xê-non đã được tạo thành trong quá trình phân hạch có thành phần đồng vị khanh giống như thành phần đồng vị quan sát thấy trong các lò phản ứng hạt nhân hiện đại. Sau rất nhiều thực nghiệm, tác giả đã đưa ra một số giả thuyết giải thích nguồn gốc khí xê-non có thành phần đồng vị bất bình thường trong sản phẩm của phản ứng phân hạch dây chuyền của u-ra-ni xảy ra trong thiên nhiên 2 tỷ năm về trước, trong đó có giả thuyết khí xê-non này có thể là sản phẩm phân hạch của một nguyên tố hóa học nặng hơn u-ra-ni”.
GS.TSKH Iuri Alếchxanđrơvich Xucôlicôp, nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực địa hóa đồng vị và cũng là người thầy trực tiếp hướng dẫn nghiên cứu sinh Đặng Vũ Minh hoàn thành bản luận án, nhìn nhận học trò của mình dưới góc độ nhân văn: “Đặng Vũ Minh có trí thông minh và óc suy tưởng bẩm sinh, có lòng vị tha, với phông văn hóa rộng. Anh yêu văn học Việt, văn học Nga, nói thạo bốn ngoại ngữ. Với kết quả nghiên cứu xuất sắc của anh, tôi tin tưởng Đặng Vũ Minh khi trở về Tổ quốc sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu lớn”.
Nhà khoa học hóa - lý Đặng Vũ Minh từng làm khoa học thực thụ rồi lên đến chức Viện trưởng Viện Hóa của Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia (1992-2002), tức Viện Hàn lâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Việt Nam hiện nay, kiêm luôn chức Giám đốc của Trung tâm từ năm 1994 nên được bầu Ủy viên Trung ương Đảng (1996).
Một nhân cách khiêm nhường
Có lần tôi thắc mắc: Với hành trình hoạt động khoa học nói trên, vì sao anh chỉ được nhận được Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ mà chưa được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh?
Anh Minh đã khiêm nhường mà tâm sự rất thực lòng rằng: Cũng đều có lý do của nó anh ạ. Bởi vì chúng ta không ai có thể có được tất cả mọi thứ ở đời. Tôi đã thôi làm công tác nghiên cứu khoa học thực sự là từ năm tôi mới có 46 tuổi. Mà cái tuổi gọi là đủ độ chín của việc nghiên cứu chuyên sâu thì đó mới là lúc có thể có những phát kiến nhất định.
Một nhà khoa học khác gần với lĩnh vực khoa học này nói: Kể cũng khó cho GS Minh bởi ông ấy luôn có vị trí quan trọng trong các kỳ cuộc bầu chọn Giải thưởng Quốc gia. Không lẽ ông ấy lại tự đề nghị mình, trong khi bản thân ông ấy lại vốn luôn là người vừa rất khiêm tốn vừa rất tinh tế, một người có nhân cách lớn trong giới nghiên cứu khoa học.
Anh là một chính khách được giới trí thức kiều bào ta ở hải ngoại quý trọng. Anh được bầu làm Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam nhiều khóa, đến khi nghỉ thì làm Chủ tịch danh dự của Hội. Anh có nhiều đóng góp xây dựng VUSTA thành một tổ chức vững mạnh của giới trí thức khoa học và công nghệ trong và ngoài nước, đóng vai trò là cầu nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng khoa học, và giúp VUSTA có nhiều ảnh hưởng với các cơ quan lập pháp, chính phủ và các tổ chức xã hội khác.
Hồi GS Đỗ Nguyên Phương đột ngột qua đời khi đang đảm trách chức Trưởng ban Khoa giáo Trung ương Đảng, tôi có biết được Bộ Chính trị quyết phương án thay thế cho GS Phương là GS Đặng Vũ Minh. Tôi vội gọi cho anh báo tin, anh cũng bất ngờ vì tuyệt nhiên không thấy ai nói gì. Sau đó, tôi theo dõi thì không thấy như kế hoạch dự kiến. Tôi thắc mắc, anh cho hay: Mình đã xin rút lui để BCT tìm người khác, do mình rất muốn làm công tác nghiên cứu bởi đó mới là sở trưởng.
Một trí thức tinh tế và giàu cảm thông
Theo họ hàng, tôi gọi anh Đặng Vũ Minh bằng anh họ. Bà nội tôi là em ruột của ông nội anh Minh. Bà được anh trai mình - cụ Đặng Vũ Kính - nhờ đi vào kinh đô Huế xin dâu là bà Phạm Thị Thức về làm vợ bác sĩ Đặng Vũ Hỷ. Bà Thức khi đó ở với cha mình là cụ Phạm Quỳnh, Thượng thư Bộ Lễ, một nhà văn hóa lớn với câu nói nổi tiếng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Cuộc đời cụ Phạm Quỳnh, kể cả sau khi cụ mất, chịu nhiều tranh cãi. Mãi đến gần đây mới có sự nhìn nhận đúng mực, nghiêm túc, trân trọng hơn.
Trong số các con cháu thành danh của cụ Phạm Quỳnh như GS.BS.NGND Phạm Khuê (con trai, nguyên Viện trưởng Viện lão khoa Trung ương), nhạc sĩ Phạm Tuyên (con trai, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật năm 2012), GS.BS. Đặng Vũ Hỷ (con rể, Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật đợt 1 năm 1996), có lẽ cháu ngoại, GS,Viện sĩ, TSKH Đặng Vũ Minh cũng là một người nổi bật và cống hiến nhiều cho đất nước.
Anh Minh biết hoàn cảnh của cha tôi – vì lý lịch “Quốc dân đảng” mà chịu nhiều thiệt thòi. Có lần anh tâm sự với tôi: Trong cuộc bể dâu ít nhiều gia đình nào, đặc biệt là những gia đình thuộc tầng lớp trên, cũng phải trải qua những thử thách nghiệt ngã, thậm chí những oan trái. Vì nghĩa lớn, vì đất nước và dân tộc, cha mẹ anh cũng như cha mẹ tôi đều im lặng chịu đựng, tuyệt đối không bao giờ buông lời ca thán. Có lẽ, cách hành xử như vậy là một trong số những tài sản quý giá về tinh thần mà các cụ đã để lại cho anh em chúng mình.
Nhà báo Nguyễn Quốc Phong, sinh năm 1956. Tốt nghiệp ĐH năm 1977, Khóa 18 khoa Ngữ Văn, ĐH Tổng hợp Hà Nội. Làm báo từ 1978, có 9 năm làm báo trong quân đội. Năm 1986 ông Quốc Phong là đại úy, chuyển ngành về cơ quan cũ là tạp chí Thanh Niên. Tốt nghiệp Học viện Chính trị cao cấp Nguyễn Ái Quốc hệ dài hạn năm 1990. Sau 16 năm (1992-2008) đảm trách cương vị Phó Tổng biên tập báo Thanh Niên, ông rời cương vị này do tai nạn nghề nghiệp (Vụ PMU 18). Ông tiếp tục là Ủy viên Ban biên tập báo Thanh niên (2010-2016) và nghỉ hưu. Nhà báo Quốc Phong từng cộng tác với hàng chục tờ báo.
Quốc Phong