Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ tín chỉ các-bon

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ tín chỉ các-bon
2 giờ trướcBài gốc
Với dư địa lớn về tài nguyên rừng và sản xuất nông, lâm nghiệp, Thái Nguyên đứng trước cơ hội tham gia thị trường tín chỉ các-bon, một cơ chế kinh tế mới gắn với xu thế tăng trưởng xanh toàn cầu.
Biến tiềm năng thành giá trị kinh tế
Sau sáp nhập đơn vị hành chính, lâm nghiệp tiếp tục là ngành thế mạnh của Thái Nguyên với hơn 557.000ha rừng, tỷ lệ che phủ trên 62% (cao hơn mức bình quân cả nước). Diện tích rừng lớn cùng độ che phủ cao tạo nên nguồn dự trữ các-bon tự nhiên có giá trị, là nền tảng quan trọng để hình thành tín chỉ các-bon.
Diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC đã đạt trên 37.500ha, cùng hơn 42.000ha rừng gỗ lớn. Chứng chỉ FSC góp phần nâng cao giá trị gỗ xuất khẩu vào các thị trường lớn như: Mỹ, EU, Nhật Bản,... đồng thời mở ra điều kiện tham gia thị trường các-bon; góp phần tăng tính minh bạch trong quản lý tài nguyên rừng, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng cao.
Đây cũng là cơ sở để tích hợp các tiêu chí về hấp thụ và lưu trữ các-bon vào quản lý rừng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đo đếm, xác nhận và giao dịch tín chỉ trong tương lai.
Theo đánh giá của ngành chuyên môn, với khoảng 14,7 triệu héc-ta rừng và độ che phủ 42%, mỗi năm rừng Việt Nam hấp thụ gần 70 triệu tấn CO2. Nếu tính theo đơn giá 5 USD/tín chỉ, nguồn thu có thể đạt gần 200 triệu USD, tương đương khoảng 5.000 tỷ đồng. Những con số này cho thấy giá trị kinh tế từ các-bon đang dần trở nên rõ nét, mở ra hướng khai thác mới song hành với giá trị lâm sản truyền thống.
Tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 62% đưa Thái Nguyên trở thành địa phương có tiềm năng lớn tham gia thị trường tín chỉ các-bon.
Tại xã Yên Trạch, địa phương có thế mạnh kinh tế rừng với tổng diện tích gần 6.500ha, trong đó hơn 4.100ha đã được cấp chứng chỉ FSC. Những năm gần đây, chính quyền địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, định hướng người dân chuyển từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn, áp dụng quy trình chăm sóc theo tiêu chuẩn FSC.
Chị Nguyễn Thị Tuyết, Bí thư Chi bộ xóm Trung, chia sẻ: Người dân trong xóm tích cực hưởng ứng trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC. Một số diện tích khi khai thác đã được hỗ trợ theo cam kết. Dù yêu cầu kỹ thuật cao và thời gian chăm sóc dài hơn, giá trị kinh tế mang lại rõ rệt. Khi có thêm cơ hội từ tín chỉ các-bon, người dân kỳ vọng có thể gắn bó lâu dài và nâng cao thu nhập từ rừng.
Giai đoạn 2025-2030, xã Yên Trạch đặt mục tiêu mở rộng diện tích rừng FSC lên 4.800ha đến 5.200ha, duy trì tỷ lệ che phủ 50-52%. Chính quyền địa phương tiếp tục phối hợp với kiểm lâm và doanh nghiệp chuyển giao kỹ thuật, nâng cao chất lượng rừng trồng.
Đây là bước chuẩn bị cần thiết để sẵn sàng tham gia thị trường các-bon, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Sự chuyển biến về nhận thức và phương thức sản xuất của người dân cho thấy hướng đi lâm nghiệp gắn với tín chỉ các-bon đang dần hình thành, tạo nền tảng để mở rộng quy mô trong thời gian tới.
Cán bộ Hạt Kiểm lâm số 13 hướng dẫn người dân xã Yên Trạch trồng, chăm sóc rừng theo tiêu chuẩn FSC.
Bên cạnh lợi thế về rừng, lĩnh vực trồng trọt cũng mở ra dư địa lớn. Các cây trồng chủ lực như lúa, chè, dược liệu có khả năng tham gia thị trường các-bon thông qua áp dụng quy trình sản xuất giảm phát thải.
Vụ xuân năm 2025, mô hình canh tác lúa thông minh ướt - khô xen kẽ được triển khai trên 12ha tại xóm Bản Đông, xã Hợp Thành, với 104 hộ tham gia. Người dân áp dụng phương pháp SRI, IPHM và kỹ thuật tưới AWD, giúp tăng khả năng hấp thụ dinh dưỡng, cải thiện sinh trưởng của cây lúa.
Kết quả cho thấy chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới giảm từ 30-40%. Lợi nhuận đạt 65,7 triệu đồng/ha, cao hơn 56% so với phương thức truyền thống. Đồng thời, phương pháp tưới AWD giúp giảm phát thải khí methane, loại khí nhà kính có tác động mạnh trong canh tác lúa nước.
Mô hình này đã được cấp chứng nhận báo cáo giảm phát thải khí nhà kính với tổng lượng giảm 44,51 tấn các-bon, tương đương giá trị gần 17,4 triệu đồng. Ngoài hiệu quả kinh tế, mô hình góp phần thay đổi tập quán canh tác theo hướng tiết giảm vật tư đầu vào, nâng cao khả năng thích ứng của hệ sinh thái sản xuất.
Việc ghi nhận và lượng hóa phát thải cũng giúp địa phương tiếp cận các quy trình kỹ thuật quốc tế, tạo tiền đề tham gia các chương trình tín chỉ các-bon quy mô lớn hơn.
Từ mô hình ở Hợp Thành, hướng sản xuất nông nghiệp giảm phát thải ngày càng rõ nét, góp phần thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao giá trị canh tác. Nhiều gói kỹ thuật giảm phát thải cũng đang được triển khai rộng rãi như: Nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao, tưới tiết kiệm, chế biến sâu...
Diện tích rừng FSC và rừng gỗ lớn ngày càng được mở rộng trên địa bàn tỉnh, trở thành nguồn tiềm năng quan trọng cho thị trường tín chỉ các-bon.
Toàn tỉnh hiện có hơn 7.450ha cây trồng sản xuất theo hướng an toàn; 183 cơ sở chăn nuôi đạt chứng nhận VietGAP; trên 320ha được chứng nhận hữu cơ; 138 vùng trồng được cấp mã số.
Hệ thống chứng nhận và mã số vùng trồng góp phần chuẩn hóa dữ liệu sản xuất, phục vụ công tác theo dõi phát thải và truy xuất nguồn gốc, tạo thuận lợi khi kết nối với các nền tảng quản lý tín chỉ các-bon trong tương lai.
Những kết quả bước đầu khẳng định tiềm năng phát triển tín chỉ các-bon trong nông, lâm nghiệp của Thái Nguyên còn rất lớn, dù thị trường mới ở giai đoạn khởi động.
Chủ động nắm bắt cơ hội từ xu thế toàn cầu
Thực hiện Quyết định số 232 ngày 24/1/2025 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam, Thái Nguyên đã triển khai nhiều nhiệm vụ nhằm hướng tới mục tiêu giảm phát thải ròng về “0” vào năm 2050. UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 73/KH-UBND triển khai Đề án sản xuất giảm phát thải trong lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn 2050.
Canh tác lúa đang chuyển dần từ phương thức truyền thống sang các mô hình đạt tiêu chuẩn hữu cơ, giảm phát thải.
Mục tiêu đến năm 2035, lĩnh vực trồng trọt phấn đấu giảm ít nhất 15% tổng lượng phát thải khí nhà kính. Tỉnh dự kiến xây dựng nhãn hiệu “Phát thải thấp” cho nông sản; triển khai ít nhất 2 mô hình giảm phát thải trên cây chè và dong riềng có khả năng nhân rộng; thí điểm khoảng 15 mô hình canh tác đủ điều kiện hình thành tín chỉ các-bon.
Cùng với các mục tiêu cụ thể, tỉnh chú trọng hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân trong tổ chức thực hiện. Việc huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt từ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực môi trường và tín chỉ các-bon, được xác định là yếu tố quan trọng nhằm rút ngắn quá trình tiếp cận thị trường.
Công tác đào tạo, tập huấn cũng được tăng cường để nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở và người sản xuất.
Thái Nguyên có thế mạnh về cây chè, phần lớn diện tích đã được chuyển đổi sang sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ.
Định hướng đến năm 2050, ngành trồng trọt phát triển theo hướng sinh thái, hiện đại, phát thải thấp; tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị tuần hoàn; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và nông nghiệp thông minh; hình thành hệ thống dữ liệu số về phát thải, kết nối với hệ thống giám sát quốc gia. Cùng với đó, tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp tiếp tục được đẩy mạnh.
Giai đoạn 2026-2030, tỉnh dự kiến chuyển đổi khoảng 7.000ha đất kém hiệu quả sang cây trồng có giá trị cao hơn; mở rộng diện tích chè trên 24.500ha, trong đó khoảng 70% đạt tiêu chuẩn GAP hoặc hữu cơ. Sản xuất lúa theo hướng bền vững sẽ được áp dụng trên hơn một nửa diện tích.
Lâm nghiệp bền vững tiếp tục giữ vai trò trụ cột. Mỗi năm, tỉnh đặt mục tiêu trồng mới khoảng 6.000ha rừng, nâng cao giá trị chế biến, tăng tỷ lệ sử dụng nguyên liệu trong tỉnh và mở rộng diện tích rừng đạt chứng chỉ FSC. Việc gắn rừng FSC với tín chỉ các-bon tạo thêm nguồn thu, đồng thời góp phần bảo vệ tài nguyên rừng.
Các mô hình nông nghiệp thông minh đang từng bước được nhân rộng trên địa bàn tỉnh.
Ông Triệu Đức Văn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, khẳng định: Ngành Nông nghiệp sẽ tiếp tục phát triển các mô hình sản xuất, chế biến theo hướng công nghệ cao, tuần hoàn, gắn với chuỗi giá trị; đẩy mạnh dịch vụ hấp thụ các-bon và thị trường tín chỉ các-bon rừng.
Trọng tâm là bảo đảm lợi ích của người dân, lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình này. Khi hiệu quả kinh tế được nhìn nhận rõ ràng, sự chuyển đổi sang phương thức sản xuất bền vững sẽ diễn ra mạnh mẽ và ổn định hơn.
Với các mục tiêu và giải pháp cụ thể, Thái Nguyên đang từng bước khai thác tiềm năng tín chỉ các-bon. Nếu được triển khai hiệu quả, đây sẽ trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng xanh, nâng cao thu nhập cho người dân và tạo nền tảng phát triển bền vững trong những năm tới.
Thu Nhuận
Nguồn Thái Nguyên : https://baothainguyen.vn/tai-nguyen-moi-truong/202604/danh-thuc-mo-vang-xanh-tu-tin-chi-cac-bon-68170a6/