"Mã " định danh bản sắc Thủ đô
Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17-3-2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới đặt mục tiêu xây dựng Hà Nội thành trung tâm văn hóa, sáng tạo tiêu biểu, lấy người dân làm trung tâm và hướng tới thành phố toàn cầu.
Trước đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026) của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cũng đã khẳng định văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Với định hướng quan trọng ấy, không gian di sản sông Hồng, vốn đã sở hữu một kho tàng văn hóa lịch sử đồ sộ, đang được nhìn nhận lại như một nguồn lực chiến lược của Thủ đô.
Sông Hồng gắn liền với dòng chảy lịch sử, văn hóa của Thăng Long - Hà Nội. Ảnh: Phạm Hùng
Dọc theo hai bên bờ sông Hồng là hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trải dài như thành Cổ Loa, đền thờ Hai Bà Trưng tại Mê Linh, đình Chèm, đền Ghềnh, chùa Bồ Đề ngay bên bờ sông, cầu Long Biên... Bên cạnh đó, còn có những làng nghề, làng cổ như: Bát Tràng, Đông Ngạc, Đường Lâm. Các tuyến, tour du lịch đường sông hiện cũng kết nối với đền Chử Đồng Tử, đền Gióng, chùa Bút Tháp, lăng Kinh Dương Vương... tạo thành một hành lang văn hóa tâm linh đặc sắc hiếm thành phố nào có được.
Di tích quốc gia đặc biệt đình Chèm, một điểm đến hấp dẫn dọc bờ sông Hồng. Ảnh: Lại Tấn
Dưới góc nhìn của chuyên gia văn hóa Phùng Hoàng Anh, sông Hồng không chỉ đơn thuần là một thực thể địa lý, mà là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt, kết nối toàn bộ tiến trình hình thành và phát triển của văn minh lúa nước và văn hiến Thăng Long. Chuyên gia văn hóa Phùng Hoàng Anh cho biết: “Chúng ta thường nhìn vào di sản như những điểm đến riêng lẻ, nhưng với sông Hồng, phải nhìn nhận đây là một bảo tàng sống khổng lồ. Mỗi khúc sông chảy qua Hà Nội đều mang trong mình những lớp “phù sa văn hóa” dày đặc, tích tụ từ thời đại đồ đồng đến tận ngày nay".
Giá trị của nó nằm ở sự cộng hưởng giữa di sản vật thể là các đình, chùa, thành quách và di sản phi vật thể như các lễ hội sông nước, huyền thoại về Chử Đồng Tử - Tiên Dung hay tín ngưỡng thờ Mẫu. Đó là một hệ sinh thái văn hóa nhân văn đặc thù mà không một đô thị nào trên thế giới có được sự tương đồng hoàn hảo như Hà Nội. Đây chính là “mã gen” định danh cho bản sắc Thủ đô trong kỷ nguyên mới, là điểm tựa để Hà Nội tự tin bước ra thế giới với tư cách một thành phố di sản.
Tiền đề phát triển kinh tế sáng tạo
Đặt di sản trong tầm nhìn kinh tế văn hóa cụ thể hơn, Tiến sĩ Lê Thị Việt Hà, chuyên gia văn hóa doanh nghiệp, Viện Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ, trong toàn tuyến sông Hồng chảy qua địa bàn Hà Nội có rất nhiều ngôi chùa, đình, đền được xếp hạng di tích văn hóa lịch sử. Sự đa dạng và phong phú của các di tích là điểm đến lý tưởng cho du lịch tâm linh hiện nay, tạo tiền đề để phát triển sản phẩm văn hóa đặc sắc.
Tiến sĩ Lê Thị Việt Hà, Viện Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: NVCC
Thế nhưng, hiện nay tour du lịch sông Hồng vẫn chưa khai thác hết các di tích hai bên bờ sông. Còn rất nhiều đền, chùa có giá trị văn hóa lịch sử chưa được đưa vào trong các chương trình của tour. Khu vực bãi giữa sông Hồng cũng đang được cải tạo thành những công viên. Đây là những tiền đề quan trọng, nhưng cần được kết nối, quy hoạch bài bản mới tạo ra sức hút thực sự và bền vững.
Để biến tiềm năng thành sản phẩm thực sự, theo Tiến sĩ Lê Thị Việt Hà, cần đặt di sản vào trong “logic của kinh tế văn hóa”, không nhìn di sản như một thực thể tĩnh cần gìn giữ mà như một nguồn lực kinh tế cần được kích hoạt. “Không gian ven sông Hồng hội tụ nhiều lớp giá trị như di sản vật thể, di sản phi vật thể và cảnh quan sinh thái đặc trưng. Điểm cốt lõi là đưa di sản tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị kinh tế.
Phối cảnh một phần dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Ảnh: CĐT
"Khi đặt trong logic kinh tế, di sản không còn tồn tại như một thực thể tĩnh mà được tái cấu trúc thành các sản phẩm có thể tham gia vào chuỗi giá trị, từ du lịch văn hóa sinh thái, du lịch cộng đồng, đến các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và sáng tạo nội dung. Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận mới trong quy hoạch và quản trị không gian ven sông”, Tiến sĩ Lê Thị Việt Hà nhận định.
Tương tự, chuyên gia văn hóa Phùng Hoàng Anh cho rằng, việc phát triển phía sau không nên chỉ dừng lại ở các tour du lịch đường thủy đơn thuần mà cần chuyển đổi số và tư duy quy hoạch tích hợp. Cụ thể, cần xây dựng “Bản đồ số di sản sông Hồng”, ứng dụng công nghệ thực tế ảo để kể lại câu chuyện lịch sử của các di tích dọc hai bờ sông, giúp du khách trải nghiệm được chiều sâu văn hóa ngay cả trước khi đặt chân tới. Khi chúng ta biến được các di sản dọc sông thành những “điểm chạm” cảm xúc thông qua nghệ thuật biểu diễn, ẩm thực và trải nghiệm thực tế, lúc đó dòng sông mới thực sự thức tỉnh và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu 7% GDP của công nghiệp văn hóa như Nghị quyết 80-NQ/TW đã đề ra.
Tuy nhiên, không phải mọi cách khai thác đều dẫn đến phát triển bền vững. Nhấn mạnh vai trò không thể thay thế của cộng đồng ven sông, Tiến sĩ Lê Thị Việt Hà cho rằng: Việc kinh tế hóa di sản không chỉ dừng lại ở việc khai thác trực tiếp các giá trị sẵn có mà còn gắn liền với quá trình “tái sản xuất văn hóa” thông qua các ngành công nghiệp sáng tạo, nơi di sản trở thành chất liệu đầu vào cho thiết kế, nghệ thuật, truyền thông và các hoạt động lễ hội quy mô lớn. Cộng đồng ven sông không chỉ là người gìn giữ di sản mà còn phải trở thành chủ thể tham gia sản xuất và hưởng lợi từ các hoạt động kinh tế liên quan.
Quan điểm này trùng khớp với tinh thần “lấy người dân làm trung tâm” trong Nghị quyết 02-NQ/TW và “Nhân dân là chủ thể sáng tạo” mà Nghị quyết 80-NQ/TW khẳng định. Kiến tạo kỳ tích sông Hồng hôm nay không bắt đầu từ bê tông mà từ văn hóa, từ khát vọng khi biết lắng nghe dòng chảy của lịch sử, đồng điệu với nhịp đập của thời đại.
Minh Phương