Đảo Phú Quý - Tết xưa, xuân nay

Đảo Phú Quý - Tết xưa, xuân nay
4 giờ trướcBài gốc
BÌNH THUẬN QUA THI BÚT
“Thanh cảnh, xuân sắc phồn (Ngày xuân / Cảnh thanh tú, sắc xuân rộn ràng)
Hoa cẩm tú rực rỡ, cành trúc xanh tươi (Hoa gấm đẹp đẽ rực rỡ, cành trúc xanh tươi)…”.
Đầu bài viết về đảo Phú Quý, tôi xin nhắc đến những bài thơ của danh thần Nguyễn Cư Trinh (1716–1767), một nhà chính trị, quân sự và văn hóa lỗi lạc thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Ông được nhắc đến với công lao mở cõi về phương Nam, là vị quan có công trấn áp cướp biển để bảo vệ dân chài. Ở đảo Phú Quý, những vở kịch hát bội được tổ chức trong ngày xuân bao giờ cũng có vở nói về cuộc chiến chống cướp biển của dân đảo.
Xuân mới, nhiều người vẫn hoài niệm về địa danh “Bình Thuận” nay đã sáp nhập vào tỉnh Lâm Đồng. Nhớ chuyện xưa cũ, hãy đọc lại bài thơ “Bình Thuận đạo trung” của Nguyễn Cư Trinh, một vị quan vừa giỏi văn chương, vừa là võ tướng đánh trận giỏi. Ông từng giữ chức vụ đầu tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Bình. Năm 1753, trên đường vào Nam Bộ nhận nhiệm vụ mới, khi băng qua tỉnh Bình Thuận, Nguyễn Cư Trinh đã cảm tác và viết bài thơ này:
Thú lâu thu sắc lãnh, Dịch lộ vãn phong tàn…
(Chòi canh sắc thu lạnh, / Đường trạm gió chiều hiu hắt)
Bài thơ có tám câu, đọc hai câu đầu tiên đã thấy Bình Thuận hiện ra là một vùng đất đầy nắng, gió; cảnh đẹp nhưng buồn hiu quạnh, trên đường là những chòi canh, con đường dịch trạm. Nhưng đối với những người ở đảo Phú Quý, điểm tương đồng trong sáng tác của Nguyễn Cư Trinh là bài thơ ông viết về việc tuần tra, chống cướp biển ở Nam Bộ. Tại đảo Phú Quý, cứ đến ngày Tết lại vang lên tiếng hát xướng kể về tên tuổi các bậc cha ông ngày xưa đã chống cướp biển ra sao:
“Thời xưa nổi tiếng vang lừng /
Có ông Lưu Đạn đã từng vật trâu /
Tiếng vang sức mạnh đứng đầu /
Cộng thêm tráng sĩ Hoàng Cầu nổi danh…”.
Trong quá khứ, cứ tới ngày Xuân, những người già ở đảo lại nhắc đến gốc gác cư dân từ Đạo Thừa tuyên Quảng Nam (bao gồm Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định), một trong 13 đơn vị hành chính thời nhà Nguyễn, đã ra đảo khai hoang, lập ấp. Người dân trên đảo cũng không quên nhắc lại bài thơ “Đi Kinh”, nội dung kể chuyện cụ Bùi Quang Diêu cùng các cụ đi thuyền buồm từ đảo vượt biển ra kinh thành Huế vào năm 1901 để kêu kiện. Ngày xuân, các cụ cũng không quên nhắc đến Nguyễn Cư Trinh với quy định ngư dân phải khắc họ tên, quê quán trên mũi ghe, cùng công lao chống cướp biển của ông.
Ông Trần Thanh Phong, sinh năm 1954, hiện sống ở đảo Phú Quý, tâm sự: 60–70 năm về trước, ngày xuân trên đảo rất đầm ấm, bà con lần lượt đi thăm hết nhà của nhau, kể lại những chuyện vui buồn trong một năm đã qua. Nhân dịp này, gánh hát bội Đồng Tâm lại tổ chức nhiều vở diễn, trong đó có vở “Kiều Huy Tạng” do ông Phong sáng tác, nội dung nói về người dân đảo chống cướp biển: “Khen ông Lưu Đụn có tài mạnh thay / Tập trung dân gánh mười ngày / Bằng Đụn một gánh đổ ngay hai gò…”.
Người dân ở đảo Phú Quý có tính cách mộc mạc, gần gũi. Qua các vở tuồng được biểu diễn trong ngày xuân tại đảo, có thể thấy bà con luôn giữ truyền thống tôn vinh những người anh hùng đã có công bảo vệ đảo trước nạn cướp biển. Dù họ sống cách đây vài trăm năm, nhưng cứ tới ngày Tết, tên tuổi của những người anh hùng ấy lại được xướng lên: “Xem mây xanh bốn phía / Ngó bốn bên sóng biển trùng trùng / Vang danh nổi tiếng anh hùng / Ngã tánh tự Kiều Huy Tạng là danh…”.
ĐẢO GIÓ XA BỜ
Vì đảo Phú Quý nằm cách đất liền 56 hải lý nên mùa gió đông bắc và tây nam luôn là đặc trưng thời tiết khác biệt so với đất liền. Trong chuyến công tác trên tàu 561 – Khánh Hòa 01 (Lữ đoàn 955, Vùng 4 Hải quân) và khi qua đảo Phú Quý cách đây chưa lâu, tôi mới thấm sự khắc nghiệt của thời tiết quanh đảo. Gió thổi ầm ầm, con tàu trọng tải 2.000 tấn chồm lên chồm xuống để vượt qua những đụn sóng cao vài mét; tấm bạt phủ trên boong tàu phát ra âm thanh xào xào như mưa đá đổ xuống. Các đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi), Cù Lao Chàm (thành phố Đà Nẵng) không có hai mùa gió mạnh và khắc nghiệt như vậy.
Cuộc sống ở đảo Phú Quý bây giờ đã thay đổi. Nhiều người xây dựng được nhà xi măng và tường bao kiên cố, không còn những ngôi nhà làm bằng đá quánh màu đỏ sậm. Cuộc sống đã đổi thay khá nhiều, nhưng thiên nhiên thì con người không thể thay đổi: năm nào cũng có hai mùa gió, đó là mùa gió tây nam từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa gió đông bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Các cụ già trên đảo thường đọc câu vè:
“Kể sao cho xiết thương ôi /
Ông bà ta trước ban đầu ở đây /
Cũng vì mây gió thổi vầy /
Cho nên xiêu lạc chỗ này chỗ kia…”.
Cứ tới mùa gió, người nông dân trên đảo lại đi chặt cây ngũ trảo để bồi đắp, làm cho hàng rào dày thêm. Tại khu vực xã Long Hải, Ngũ Phụng (hiện đã sáp nhập vào đặc khu Phú Quý) là nơi gió thổi rất mạnh. Có lúc gió thổi bạt cả người đang đi xe trên đường. Vào ban đêm, tiếng gió nghe như sắp có bão. Âm thanh của gió giờ đây hòa lẫn trong bước chân du khách. Nhiều người ra đảo để hưởng cái không khí kỳ lạ của hòn đảo nằm cách đất liền 56 hải lý.
Nghe tiếng gió đông bắc, tây nam thổi ở đảo Phú Quý, tôi chợt nhớ đến mùa gió tây nam ở quần đảo Thổ Chu, tỉnh An Giang. Khoảng cách của quần đảo Thổ Chu xa bờ gần gấp đôi đảo Phú Quý mùa gió ở đây còn khó chịu hơn. Cư dân xã đảo Thổ Châu (quần đảo Thổ Chu) tránh gió bằng cách xây dựng hai ngôi nhà ở hai đầu đảo, gọi là nhà bãi Dong và nhà bãi Ngự; cứ theo mùa gió mà di chuyển giữa hai ngôi nhà. Cuộc đời cư dân đảo luôn gắn với Mùa Nam, Mùa Bấc.
Mùa gió ở đảo Phú Quý đi qua, nhiều loài tôm cá lại sinh sống quanh đảo; mực về đẻ trứng nhiều nhất ở khu vực Hòn Tranh. Cứ tới mùa mực, cả đảo lại rậm rịch cho thuyền đi đánh bắt ngay sát bờ. Mực ở đảo sau khi đánh bắt không đổ dồn thành đống; mỗi giỏ mực được đổ vào túi nylon và buộc miệng. Vì vậy, khi mực đưa vào bờ vẫn phát ra ánh sáng óng ánh trên thân mực; ngư dân gọi là mực nháy. Những loại mực này trở thành sản vật khó quên đối với ai từng một lần thưởng thức.
Các bậc cao niên trên đảo còn lưu lại chuyện người Đạo Thừa tuyên Quảng Nam ra đảo lập nghiệp. Vì vậy, trên đảo có nhiều địa danh trùng với đất liền như Hội An, Tam Thanh, Mỹ Khê, Hải Châu, Phú Ninh… Rồi do đường xa cách trở, mỗi năm hai mùa gió không thể trở về thăm quê cũ. Trong câu hò, vè ở đảo thường nhắc đến mùa gió, đọc lên nghe mênh mang nỗi nhớ cố hương:
“Đi lên thì sợ Nam dò /
Còn lo Nam độn Nam dò thổi dai /
Lại với cái Nam chóp chài /
Tới chừng nó phát thổi dài cuồng hung /
Lên kinh thời sợ Nam tùng /
Còn thêm Nam Việt còn hung nhưng là…”.
Quanh đảo Phú Quý từng bạt ngàn các loại hải sản. Ngư dân thời trước đi đánh bắt bằng cách căng buồm cho thuyền chạy, phía sau là lưỡi câu. Cá nháy chạy đua theo thuyền, dính câu nhiều vô số kể. Có lúc 7 giờ sáng mở buồm cho gió thổi thuyền chạy, tới 10 giờ đã hạ buồm, chèo ghe về đảo với một khoang đầy cá. Giờ đây, cá tôm ở đảo không còn dồi dào như trước nên cư dân chuyển một bộ phận sang làm du lịch; ngày xuân, du khách tấp nập ra tham quan đảo.
Lê Chương
Nguồn CA TP.HCM : http://congan.com.vn/doi-song/nhip-song/dao-nguyen-tien-trinh_189208.html