Ở Ba Bùi còn lưu giữ nhiều giếng làng.
Nằm trên thế đất bán sơn địa núi đồi, đồng ruộng, ao hồ xen kẽ, Ba Bùi (hay Kẻ Bùi) là cách dân gian gọi tên ba làng Đà Sơn (Bùi Đà), Trạng Sơn (Bùi Trạng) và Bùi Nga (Song Nga). Trước Cách mạng Tháng Tám, Ba Bùi thuộc tổng Trung Bạn, về sau thuộc xã Hà Bắc (huyện Hà Trung cũ) và hiện nay thuộc xã Hà Long. Mỗi làng Bùi (nhỏ) lại gắn với câu chuyện lập làng khác nhau.
Làng Bùi Đà (Đà Sơn) có lịch sử lập dựng cách đây khoảng 5 thế kỷ. Họ Tống Đức, Tống Văn và họ Mai được xem là những dòng họ đầu tiên có công lập nên làng. Về sau, có thêm họ Trịnh, Vũ, Phạm, Tống Duy, Dương, Đỗ, Nguyễn, Hoàng, Trần... cùng đến đây tụ cư, lập nghiệp.
Tương truyền, khi nhà Lê (Lê sơ) suy yếu, Mạc Đăng Dung chiếm ngôi, Nguyễn Kim là một cựu thần trung thành với nhà Lê đã dẫn theo gia quyến và người cùng chí hướng về quê hương Gia Miêu (Hà Long) để mưu tính việc “phù Lê diệt Mạc”. Cùng đi với Nguyễn Kim khi ấy có người của họ Tống Đức và Tống Văn. “Hai dòng họ này được bố trí lập làng ở một quả đồi, xung quanh là đồng ruộng. Đến mùa nước, làng như một ốc đảo. Về sau các dòng họ khác cùng về đây sinh cơ lập nghiệp. Làng Đà Sơn có tên từ ngày đó” (Lịch sử Đảng bộ xã Hà Bắc). Từ buổi ban đầu đi theo Nguyễn Kim, về sau người họ Tống ở Đà Sơn còn theo vào đất phương Nam, phò tá các chúa và vua nhà Nguyễn gây dựng cơ nghiệp.
Khác với Bùi Đà, tên làng Bùi Trạng được cho là gắn liền với tên của dòng họ Bùi - dòng họ đầu tiên đến đây sinh sống, có công lập nên làng. Theo lưu truyền, dòng họ Bùi vốn có nguồn gốc từ phía Bắc, vì lánh nạn nên đã chạy xuống phía Nam. Khi đến đây thấy đất đai tốt tươi nên đã dừng lại để lập nghiệp, dựng xây xóm làng. Tưởng nhớ công ơn tiền nhân, hậu thế về sau đã đặt tên làng Bùi Trạng - tức Trạng Sơn.
Sau họ Bùi, ở đất Trạng Sơn còn có người họ Nguyễn Hữu từ Gia Miêu xuống, họ Nguyễn Văn từ Chuế Cầu lên... các dòng họ đã cùng nhau “chung lưng đấu cật” dựng xây xóm làng.
Nằm trong không gian của đất Ba Bùi, làng Song Nga (Bùi Nga) được lập nên từ hai làng Song Thanh và Nga Sơn. Người làng Song Nga tin rằng, làng có lịch sử lập dựng vào thế kỷ XV và họ Vũ là dòng họ đầu tiên đến đây sinh sống, lập nên xóm làng. Sau họ Vũ còn có người họ Tống, họ Nguyễn, họ Hoàng... ngày nay, trên đất làng Song Nga có khoảng 20 dòng họ cùng quần cư.
Ở Ba Bùi, bằng sức người cần lao, những thế hệ người dân đã khai hoang, tạo nên các xứ đồng, bái màu mỡ, nỗ lực cấy cày, trồng trọt để có cuộc sống ấm no. Những xứ đồng, bái được người dân đặt tên, như: đồng Quan, đồng Nâm, đồng Nếnh, đồng Ngang, Cửa Đền, bãi Đùng, bãi Cò Hón, bãi Đồng Mọn... làng Đà Sơn; đồng Đè, đồng Cây Quýt, đồng Chuông, Cửa Kho, Ao Cá, bái Vần, bái Bờ Đa, bái Làng Văn, bái Lốc... làng Trạng Sơn; đồng Ngang, đồng Ếch, dọc Đìa... làng Song Nga.
Trên đất Ba Bùi, ngoài cây lúa, có một sản vật nức tiếng xa gần, đó chính là mía Đường Chèo (có một số tài liệu viết mía Đường Trèo). Theo sách Địa chí huyện Hà Trung: “Mía Đường Trèo là một giống mía đặc biệt của Hà Trung. Chất mía mềm, ăn giòn, ngọt, thơm mát. Nhưng giống mía này không phải trồng ở bất cứ nơi nào cũng có chất lượng cao. Trong huyện chỉ có một số nơi trồng mía Đường Trèo tốt nhất, như đồi Bạng, đồi Ông Thụ ở thôn Yến Vỹ (nay thuộc xã Hà Long), đồi khu Võ của thôn Trạng Sơn, đồi khu Màu Cau của thôn Đà Sơn (nay thuộc xã Hà Bắc)... Vì là giống mía đặc biệt quý, mía Đường Trèo được chọn để tiến vua nhà Nguyễn”.
Mía Đường Chèo không chỉ ngon khi sử dụng trực tiếp, mà còn tạo chất lượng khác biệt nếu đem ép mật. Ông Tống Quốc Trụ, Bí thư chi bộ, trưởng thôn Đà Sơn, cho biết: “Mía Đường Chèo nổi tiếng từ xa xưa, được trồng nhiều ở các đồi đất đỏ của làng Đà Sơn, Trạng Sơn... Đáng tiếc, ngày nay giống mía quý đã bị mai một, việc khôi phục lại giống mía xưa thực sự rất khó khăn. Bên cạnh mía Đường Chèo thì củ từ cũng là sản vật nổi tiếng của đất Ba Bùi, dù là giống củ dân dã song người sành ăn đều nhận ra sự khác biệt”.
Trong quá trình tụ cư, vượt lên khó khăn, nỗ lực mưu sinh, những thế hệ người dân đất Ba Bùi còn chú trọng đến việc vun đắp cho đời sống văn hóa tinh thần. Ở mỗi làng đều có các công trình kiến trúc mang nét đẹp của làng quê Việt truyền thống, như đình, đền, chùa, giếng làng...
Theo lời kể của các bậc cao niên, đình Đà Sơn được khởi dựng vào đầu thời Nguyễn với 5 gian bằng gỗ bề thế, bên trong là hậu cung thờ Thành hoàng làng Tống Quốc Sư. Bên cạnh đình làng là chùa thờ Phật, rồi cây đa, giếng nước... Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đình làng Đà Sơn từng là nơi diễn ra đại hội của Đảng bộ huyện Hà Trung (cũ).
Trạng Sơn là một trong những làng thuộc đất Ba Bùi xưa.
Cũng như Bùi Đà, làng Trạng Sơn khi xưa có nhiều ngôi đền lớn nhỏ, như đền Nhà Ông, đền Nhà Bà, đền Hạc thờ các vị thần được người dân kính ngưỡng. Ở bốn phía quanh làng đều có miếu thờ. Trước đây, vào mỗi dịp lễ tết, người dân Trạng Sơn lại tổ chức rước lễ thần từ đền Nhà Ông, đền Nhà Bà về đình làng, cùng với đó là các trò chơi dân gian như cờ tướng, cờ người, đi cà kheo... vô cùng náo nhiệt.
Riêng làng Song Nga có hai đình (đình lớn và đình nhỏ). Trong đó, đình nhỏ còn được gọi là đình trên. Đình quy mô không lớn, nằm trên thế đất thoáng rộng ở lưng chừng núi Nga. Còn đình lớn thì được xây dựng thời vua Gia Long với kiến trúc 5 gian 2 chái, mái cong, bên trong đình làng nổi bật với các mảng chạm khắc gỗ tinh xảo. Đình lớn tọa lạc ở trung tâm làng Song Nga, từng là niềm tự hào của người dân địa phương. Bên cạnh đình, làng Song Nga trước đây còn có chùa thờ Phật và đền thờ Thánh...
“Trên đất Ba Bùi trước đây có sự hiện hữu của nhiều công trình kiến trúc bề thế, giàu giá trị, gắn liền với đời sống văn hóa, tín ngưỡng, là niềm tự hào của người dân trong vùng. Đáng tiếc, trải qua thời gian, vì nhiều nguyên do mà đến nay phần nhiều các công trình kiến trúc cổ đều không còn nguyên vẹn, có chăng là những dấu tích còn được nhắc nhớ qua những chuyện kể của bậc cao niên cho cháu con nghe” - ông Tống Quốc Trụ, Bí thư chi bộ, trưởng thôn Đà Sơn, chia sẻ.
Cho đến nay, một trong những dấu tích làng truyền thống còn được lưu giữ nhiều nhất ở Ba Bùi có lẽ là hệ thống giếng làng. Dạo bước quanh làng, không khó để bắt gặp những “con mắt” cổ kính của làng có tuổi đời đến cả trăm năm. Hàng chục giếng làng lớn, nhỏ ở Bùi Đà, Bùi Trạng, Bùi Nga vẫn được người dân địa phương gìn giữ như một nét văn hóa. Những giếng làng được kè đá cẩn thận, nước quanh năm trong mát... như “mạch nguồn” quý giá của đất và người Ba Bùi.
(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Địa chí huyện Hà Trung, Nxb Khoa học Xã hội, 2005; Lịch sử Đảng bộ xã Hà Bắc, NXB Văn hóa Thông tin, 2009).
Bài và ảnh: Khánh Lộc