Dấu ấn những năm Ngọ trong sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ

Dấu ấn những năm Ngọ trong sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ
3 giờ trướcBài gốc
Năm Mậu Ngọ 1918 - Bước chuyển quan trọng trong tư duy chính trị
Năm Mậu Ngọ 1918, Chiến tranh thế giới thứ nhất bước vào giai đoạn kết thúc, Nguyễn Ái Quốc đang sinh sống và hoạt động tại Pháp. Đây là giai đoạn Người trực tiếp tham gia phong trào công nhân, dân chủ xã hội, đồng thời nghiên cứu sâu sắc các trào lưu tư tưởng tiến bộ của thời đại. Đặc biệt, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi căn bản nhận thức chính trị của Nguyễn Ái Quốc.
Bác Hồ nói chuyện với các cháu thiếu nhi tỉnh Hà Bắc ngày 9/2/1967. Ảnh tư liệu.
Từ một người yêu nước ra đi tìm đường cứu nước, Người từng bước tiếp cận chủ nghĩa Mác, nhận ra con đường giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc phải gắn với chủ nghĩa xã hội. Năm 1918 có ý nghĩa sâu sắc bởi Người bắt đầu tìm thấy ánh sáng chân lý của cách mạng vô sản, trở thành một nhà hoạt động chính trị nổi bật tại Pháp, tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa... Năm Mậu Ngọ 1918 vì vậy là năm đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong tư duy, lý luận của Người.
Năm Canh Ngọ 1930 - Mốc son chói lọi, bước ngoặt lịch sử
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập, chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa quyết định, chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của cách mạng Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, là kết quả của sự kết hợp sáng tạo giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, đáp ứng yêu cầu bức thiết của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đảng ra đời đã xác lập con đường cách mạng đúng đắn là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân. Từ đây, cách mạng Việt Nam có một lực lượng lãnh đạo thống nhất, có cương lĩnh chính trị, mục tiêu, phương pháp đấu tranh rõ ràng, tạo nên sức mạnh to lớn để tập hợp, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp trong xã hội vào mặt trận chung vì độc lập, tự do của dân tộc.
Đảng ra đời còn đặt cách mạng Việt Nam trong mối liên hệ chặt chẽ với phong trào cách mạng quốc tế, tranh thủ được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới. Sự ra đời của Đảng cho thấy rõ sự thiên tài về tư tưởng, chính trị, tổ chức của Người trong bối cảnh cụ thể, thành lập chính Đảng cách mạng mang tính bước ngoặt, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, mở ra thời đại Hồ Chí Minh huy hoàng, rực rỡ của dân tộc Việt Nam sau này.
Năm Nhâm Ngọ 1942 - Thử thách cam go
Năm Nhâm Ngọ 1942, Việt Nam ở trong hoàn cảnh lịch sử cực kỳ phức tạp, chịu sự thống trị của thực dân Pháp và chiếm đóng của phát xít Nhật. Nhân dân ta chịu cảnh “một cổ hai tròng”. Trong bối cảnh ấy, phong trào cách mạng phát triển mạnh, đặc biệt là Mặt trận Việt Minh, nhất là sau Hội nghị Trung ương 8 năm 1941. Hoàn cảnh lịch sử năm 1942 đã làm mâu thuẫn dân tộc trở nên gay gắt, tạo điều kiện chín muồi cho phong trào giải phóng dân tộc và cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Mừng xuân Nhâm Ngọ 1942, Bác Hồ viết bài thơ chúc Tết đầu tiên (đăng trên Báo Việt Nam Độc lập, số 114, ra ngày 1/1/1942): “Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi/ Năm cũ qua rồi, chúc năm mới/ Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong/ Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi/ Chúc đồng bào ta đoàn kết mau/ Chúc Việt Minh ta càng tấn tới/ Chúc toàn quốc ta trong năm này/ Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới/ Năm này là năm rất vẻ vang/ Cách mạng thành công khắp thế giới”. Cũng trong số báo này, Bác Hồ viết bài “Năm mới, công việc mới” dự đoán tình hình thế giới năm 1942 và khẳng định: “Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại. Anh - Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua. Đó là thời cơ nước ta giành độc lập, tự do”.
Ngày 27/8/1942, trên đường công tác ở Quảng Tây (Trung Quốc), Bác Hồ bị Quốc dân Đảng bắt giam và chuyển qua nhiều nhà lao gian khổ. Thời gian này, Bác đã viết tập “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù). Trong hoàn cảnh tù đầy khắc nghiệt, Người vẫn giữ vững niềm tin sắt son vào thắng lợi của cách mạng, thể hiện tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường của người chiến sĩ cộng sản.
Năm Giáp Ngọ 1954 - Chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”
Năm Giáp Ngọ 1954 gắn liền với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Nhân dân ta giành thắng lợi hoàn toàn, buộc Pháp ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh Đông Dương.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đập tan hoàn toàn kế hoạch quân sự của thực dân Pháp, giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Chiến thắng là biểu tượng rực rỡ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, thể hiện sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính; thắng lợi của ý chí quyết tâm, tinh thần hy sinh, sáng tạo của quân và dân ta. Lần đầu tiên trong lịch sử, một đội quân thuộc địa đã đánh bại hoàn toàn một đội quân viễn chinh của một cường quốc thực dân ngay trong một tập đoàn cứ điểm được coi là “bất khả xâm phạm”, gây chấn động mạnh mẽ trên trường quốc tế, cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, góp phần làm sụp đổ hệ thống chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.
Năm Bính Ngọ 1966 - Ý chí quyết tâm giải phóng dân tộc
Trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra ác liệt, dù tuổi cao, sức yếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục có nhiều hoạt động quan trọng, thể hiện vai trò lãnh tụ của Đảng và dân tộc, đồng thời là linh hồn của cuộc kháng chiến. Người thường xuyên cùng Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn bạc, quyết định những vấn đề chiến lược quan trọng của cuộc kháng chiến, đặc biệt là chủ trương vừa chiến đấu vừa xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, coi miền Bắc là hậu phương lớn, vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam. Xuân Bính Ngọ 1966, Người có thơ chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước: "Chúc mừng năm mới/ Chống Mỹ cứu nước/ Toàn dân đoàn kết một lòng/ Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!". Bài thơ là lời hiệu triệu mạnh mẽ, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí quyết chiến quyết thắng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra hết sức ác liệt. Chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” được Người khẳng định như một giá trị bất biến, trở thành nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, cổ vũ toàn dân tộc anh dũng chiến đấu vì mục tiêu thống nhất đất nước.
Trong không khí xuân mới, nhìn lại những dấu ấn qua các năm Ngọ suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tận sâu thẳm trái tim mỗi người dân đất Việt càng thêm trân quý cuộc đời, sự nghiệp, giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Đây không chỉ là những mốc thời gian lịch sử, mà còn là bài học sâu sắc về công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh hôm nay. Đó là bài học về giữ vững niềm tin, hun đúc khát vọng phát triển.
Đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng trong giai đoạn mới, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người tiếp tục phải được gắn chặt với thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ I, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng; đồng thời phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng; tổ chức vận hành hiệu quả bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp, chuyển từ “quản lý, hành chính” trước đây sang “quản trị, phục vụ, kiến tạo”, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, xây dựng tỉnh Bắc Ninh ngày càng phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.
Tiến sĩ Lê Thế Cương
Nguồn Bắc Ninh : https://baobacninhtv.vn/dau-an-nhung-nam-ngo-trong-su-nghiep-cach-mang-cua-bac-ho-postid437512.bbg