Dấu trà trên đất Thái

Dấu trà trên đất Thái
một giờ trướcBài gốc
Đến Thái Nguyên, du khách dễ dàng bắt gặp những đồi chè trù phú, cùng cuộc sống thanh bình của người dân.
Tôi đến Tân Cương vào một sớm còn sương.
Hôm ấy, đất Tân Cương mở ra như một thiếu nữ Tày vừa thức giấc. Sương mỏng vương trên những đồi chè bát úp, mịn như làn phấn nhẹ còn sót lại trên gò má. Từng luống chè uốn lượn, tựa đường cong mềm e ấp của một thân hình đang độ xuân thì. Ánh nắng đầu ngày chạm xuống. Nhẹ lắm! Như thể chỉ mơn man, chỉ khẽ vuốt qua từng búp non, khiến cả đồi chè ánh lên thứ màu xanh trong mơn mởn. Cái màu xanh có sức sống mãnh liệt, mơn man khắp sườn non.
Những đồi chè nằm im, lô nhô như sắp vươn dậy. Trên những búp non phủ một lớp mỏng li ti, những giọt sương đọng lại từ đêm.
Một người đàn ông tráng kiện, đang lom khom, cần mẫn hái chè. Lưng hơi cong xuống, tay thì nhanh và đều đặn. Nhón. Ngắt. Bỏ vào thạ. Cứ thế, thoăn thoắt không ngơi nghỉ!
Đó là ông Lê Quang Nghìn, một trong những Nghệ nhân Trà của đất Tân Cương. Ông Nghìn là người Ngái, lớn lên trong gia đình có truyền thống nhiều đời làm chè ở đây. Với ông, chè như là một phần máu thịt. Từ lúc còn chạy lon ton xem bố hái chè, ông đã hỏi: Sao lại gọi “nhất nước nhì trà hả bố?”. Xoa đầu con, bố ông chậm rãi: “Nước” là yếu tố quan trọng nhất để pha một ấm trà ngon, nước ảnh hưởng trực tiếp đến hương, vị và "thần" của trà. Tuổi thơ non nớt, ưa phiêu lưu ông Nghìn cũng chưa hiểu được nhiều. Rồi bố ông dạy dạy cách hái chè, thời điểm vò chè, sao, sấy. Dù chẳng qua trường lớp, bài bản, nhưng ông thấm lắm. Ông biết, cái nghề này ngoài vất vả, còn cần cả sự kiên trì và chịu đựng.
Ông Nghìn kể: Mười lăm tuổi, tôi đã biết nhìn trời, trông đất. Biết cây chè đang cần gì… Đó chính là nước đấy. Nước hồ Núi Cốc mát lành từ những dãy núi mải miết chảy về mà tụ thành hồ, mà tưới tiêu nuôi dưỡng. Cả một vùng đất quanh đó rời rợi, trù phú bởi cây chè.
Nghe ông Nghìn nói đến “nước”, tôi chợt nghĩ: có lý. Không chỉ riêng Tân Cương, trà Thái Nguyên từ lâu đã ngon nức tiếng. Có lẽ cũng bởi cây chè đất này được “uống” thứ nước, hưởng thổ nhưỡng mát lành. Thượng nguồn của sông Cầu, sông Công đều từ những dãy núi, nước ngấm qua đá ngày đêm mà chảy về. Cây chè được nuôi bằng thứ nước trong veo ấy, thành ra mới có những vùng chè ngon nổi tiếng như La Bằng, Trại Cài, Sông Cầu.
Ông Nghìn bên ấm trà mời khách ông kể chuyện về văn hóa trà Thái tại tư gia.
Tha thẩn trên đồi nghe chuyện ông Nghìn kể, thoắt cái đã chính Ngọ. Buổi trưa, Tân Cương bỗng đổi sắc. Nắng trải dài trên những triền chè như dải lụa mỏng ôm lấy thân thể mềm mại của núi đồi. Những búp chè hơi khép lại, giữ trong mình tinh chất của đất trời, giống như con gái xứ “nửa đồng nửa núi”, thật lắm nhưng vẫn biết giữ lấy cái nếp, cái nền. Giữa trưa, nắng vàng mật ở nương chè, ánh lên từng luống xanh. Tôi còn đang mải ghi chép từ triền dốc, thì một em gái bước xuống. Da hơi nâu, mái tóc buộc gọn sau gáy. Em không nói gì, chỉ cúi xuống hái chè. Cổ tay thon mà chắc, nhanh và dứt khoát, mỗi lần xoay nhẹ là búp chè được hái ra gọn ghẽ. Chiếc áo thấm mồ hôi, dán trên lưng, nổi lên dáng người khỏe khoắn. Thấy tôi nhìn, em nheo mắt cười:
- “Anh tưởng hái chè dễ lắm phải không?”. “Nhìn thì nhẹ thật”. Tôi cười trừ.
Em hái thêm một búp, rồi giơ lên trước mặt tôi: “Nhẹ thì nhẹ, nhưng sai một cái là hỏng cả ấm trà. Hái đúng một tôm hai lá. Dân làm chè tụi em phải biết “chiều” cây như chiều người yêu. Và em cười, giòn tan như nắng vỡ rồi cúi xuống, tiếp tục công việc. Mồ hôi lăn trên sống mũi lấp lánh.
Gió lướt qua đồi, mang theo hương chè thanh nhẹ, vấn vít. Thứ hương khiến người ta phải dừng lại lâu hơn một chút, kiểu như khi đứng trước một ánh nhìn vừa đủ sâu để níu bước chân.
Hôm ấy, ông Nghìn rót trà cho tôi. Nước vàng, trong, gần giống màu mật ong hoa bạc hà. - “Chú uống đi, xem có vị gì?”.
Tôi nhấp một chút.
- “Chát. Rồi ngọt, anh ạ!”.
Ông sảng khoái cười: “Cái đó ai chả biết”.
Rồi ông nhìn ra đồi chè, nơi có gốc chè trung du cổ, trăm năm tuổi trước đây cụ ông đã trồng: “Phải thấy được nước nó đi thế nào chứ? Nước không chỉ ở trong ấm để pha trà. Nước còn len trên sườn đồi, ngấm vào đất, nuôi dưỡng cây”.
Tôi im lặng ngẫm từng lời. Một câu nói nhẹ tênh của ông Nghìn nhưng nghe xong, tôi khó mà quay lại cách uống trà kiểu cũ. Vào tháng 10-2025, tại sự kiện “Văn hóa Trà Việt - Hành trình từ cây chè tới chén trà” tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh mà ông Nghìn là khách mời. Tại đây, ông đã đại diện cho người làm chè chia sẻ câu chuyện đời mình - câu chuyện của một người đất chè, thủy chung với nghề với đất…
Đồi chè trầm lại. Hoàng hôn rơi chậm qua đồi rồi nhẹ đáp xuống hồ Núi Cốc. Dáng chiều nhuộm cả không gian một màu vàng lênh loang, ửng ấm lại sau một ngày dài. Những luống chè xếp tầng, lớp nọ đỡ lớp kia, uyển chuyển như những nếp váy thổ cẩm. Xa xa, mặt nước hồ lặng phẳng, chiếu bầu trời đang đổi sắc, giống như đôi mắt trong veo, tĩnh mà sâu thẳm, đang thu lại tất cả những gì đã đi qua trong ngày.
Để tìm hiểu thêm về "thẩm" trà, tôi tìm gặp ông Mông Đông Vũ, một nghệ nhân tâm huyết với trà nổi tiếng của tỉnh. Qua con đường Lương Ngọc Quyến sầm uất, ồn ào, rẽ vào một ngõ, cạnh Trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên là tới. Phòng của ông Vũ đầy ấm. Đếm nhanh cũng vài trăm cái. Ấm xếp kín tủ. Ấm treo trên kệ. Có cái xỉn màu như đã đi qua nhiều năm tháng.
- “Chú giữ nhiều thế làm gì?”.
- “Để chơi”, ông chậm rãi.
Trước khi pha trà, ông chọn ấm. Ông mở tủ, lôi ra cả đống: ấm sứ, ấm đất, ấm sành, cái nào cái nấy hằn vết thời gian.
Ông cầm lên, đặt xuống, ngắm nghía, xoay nhẹ trong tay. Cuối cùng, ông lấy một cái ấm bé tí, cỡ nắm tay. Ông tráng ấm. Tráng chén. Nước bốc khói. Mùi đất nung dậy lên ấm áp, ngai ngái thơm.
Ông khề khà: “Uống ít thôi. Nhiều làm gì”.
Tôi tò mò: “Sao chú không rót nước đầy?”. Ông cười: “Đầy thì còn đâu chỗ để lưu hương, để hương trú”. Một câu nói như đùa mà đúng.
Có những ngày mưa dai dẳng Tân Cương trở nên mong manh. Những đồi chè ẩn hiện dưới làn sương, không còn rõ ràng đường nét mà chỉ còn lại những mảng xanh mềm như mây đang vỡ.
Mỗi búp chè đọng nước, long lanh tựa giọt mồ hôi trên làn da non. Cả vùng đất như người thiếu nữ khoác tấm áo mỏng chèo thuyền độc mộc xuôi dòng Ba Bể. Vừa kín đấy nhưng cũng gợi lắm, khiến người ta không nhìn thấy hết mà chỉ cảm, rồi ngắm mãi chẳng muốn rời.
Ông Vũ cũng giống bao người đất này, không thích trà ướp hương hoa, như kiểu cách sang trọng mà xô bồ ở một số nơi khác. Họ không ưa thứ hương quá nồng. “Thơm kiểu ấy… giả”. Họ thích cái mùi nguyên sơ của lá chè. Có người nói vui: “Trà phải thơm như gái quê, chứ không xức nhiều nước hoa như gái phố”.
Dân Thái Nguyên chuộng cái thật. Thật và chất như những người tứ chiếng ngàn năm trước “dám” rời quê tới đất này vật lộn mưu sinh. Trà thật thì phải có vị chát, nhưng cái duyên nằm ở vị ngọt đến sau. Thơm nhẹ nhưng lâu. Chậm và rất sâu.
Tôi nhớ khoảng chục năm trước có lần gặng hỏi một cụ trồng chè, tóc bạc trắng, dáng quắc thước ở Tân Cương, điều gì quyết định trà ngon?
Ông nói một chữ thôi: “Khổ”. Thấy tôi ngơ ngác ông mới thêm: “Không khổ… trà nhạt lắm!”.
Tân Cương yên ả, khi đêm xuống.
Gió hồ thổi qua những luống chè, tạo nên những gợn sóng rất khẽ, giống hơi thở đều của một người đang ngủ. Như sơn nữ sau hội tung còn, trở về với trái tim rộn ràng, âm thầm nhưng vẫn đầy sức hút, đồi chè lúc ấy không còn phô phang cái sắc xanh ngồn ngộn, mà chìm vào bóng tối.
Một ngày đầu hạ, tôi rời Tân Cương, mang theo một dúm trà ông Nghìn đưa, nắng thủy tinh rơi rơi mãi trên đường.
Về đến nhà, tôi hí hửng lôi ấm ra pha thử. Cũng nước. Cũng chén tống, nhưng uống vào… thấy nhạt, thấy thiếu. Chẳng phải thiếu vị có lẽ là thiếu người. Thiếu cái không gian nắng gió vàng hươm, mùi đất ngai ngái, cùng tiếng nói chậm rãi mộc mạc, gần gũi.
Tôi chợt nhận ra: Không có người trà nhạt lắm. Có người… nước mới đậm vị, trà lên hương.
Nhiều năm qua ông Vũ lặn lội tìm hiểu và nghiên cứu về nguồn gốc, lịch sử trà Thái (Trong ảnh, ông Vũ đo vòng gốc một cây chè giống trung du cổ dưới chân dãy Tam Đảo, thuộc xã Quân Chu)
Lại một chiều khác, tôi pha trà. Chát. Rồi ngọt. Rồi chát… Nhưng lần này, tôi không tìm vị nữa. Tôi tìm người. Và trong một thoáng rất nhanh, tôi thấy lại đồi chè buổi sớm ấy. Thấy bóng ông Nghìn lom khom. Thấy tiếng cười khề khà của ông Vũ. Thấy người em gái hái chè.
Tất cả hiện lên rồi tan đi như làn khói trà, như làn mây mỏng đang vỡ trên đồi chè đầu hạ. Chỉ còn lắng đọng một cảm giác thân thuộc như khi đặt chân vào đồi chè buổi sớm. Tôi đặt chén xuống. Ngoài kia, ve bắt đầu râm ran trong gió nóng. Trong này, trà nóng, nhưng nhấp từng ngụm nhỏ lại thấy mát, thấy dịu.
Tôi bỗng hiểu: Có những thứ trong đời, giản dị lắm. Tưởng xưa như đất, nhưng một khi đã chạm vào rồi thì khó mà quên. Ấy chính là trà.
MINH QUANG
Nguồn Thái Nguyên : https://baothainguyen.vn/van-nghe-thai-nguyen/chuyen-muc-khac/202605/dau-tra-tren-dat-thai-f514593/