Sự cụ thể hóa, lượng hóa khát vọng hùng cường, no ấm
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên định một số mục tiêu chiến lược; trong đó đến 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến 2045, 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Hai mục tiêu “100 năm” không chỉ là mục tiêu mà còn là lời hứa, quyết tâm của một Đảng cầm quyền mà kể từ khi ra đời năm 1930, sứ mệnh của Đảng luôn gắn liền với sứ mệnh của dân tộc Việt Nam. Mọi chủ trương, quyết sách của Đảng đều hướng tới mục tiêu cao nhất là phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân.
Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc Việt Nam, Nhân dân Việt Nam. Đảng không có mục đích nào khác ngoài việc làm đất nước hùng cường, thịnh vượng, Nhân dân no ấm, hạnh phúc. Hai mục tiêu “100 năm” chính là sự cụ thể hóa, lượng hóa khát vọng hùng cường, no ấm đó.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, đất nước đã phải đối mặt với những thử thách thời đại: Chiến tranh, thiên tai, địch họa; nên người Việt Nam hơn ai hết càng hiểu giá trị của sức mạnh dân tộc, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường; càng khát vọng vươn lên; càng một niềm tin son sắt vào con đường mà Đảng, Bác Hồ, Nhân dân đã lựa chọn.
Hơn 50 năm từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, nhưng lời di chúc thiêng liêng, lời dặn dò của Người: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” vẫn luôn được mỗi đảng viên, mỗi người dân Việt Nam khắc ghi.
Chính vì thế, thực hiện mục tiêu đưa đất nước hùng cường, giàu mạnh với việc tăng trưởng nhanh, bền vững không chỉ là đích đến của giá trị kinh tế đơn thuần mà là khát vọng, là hoài bão, là lời thề thiêng liêng của cả dân tộc.
“Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng thấp. Phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững, thực chất”, Tổng Bí thư (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (tháng 3/2026).
“Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026 - 2031 là mệnh lệnh phát triển để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước”, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định trước Quốc hội, đồng bào cử tri cả nước khi phát biểu nhậm chức, tháng 4/2026.
Tăng trưởng kinh tế 2 con số là “lời giải” bắt buộc
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), GNI (thu nhập quốc dân) của Việt Nam năm 2024 đạt khoảng 4.490 USD. Dự báo năm 2025, đạt khoảng 4.750 USD đến trên 5.000 USD, chính thức giúp Việt Nam vượt qua ngưỡng thu nhập trung bình thấp để tiến vào nhóm nước thu nhập trung bình cao theo tiêu chí của WB.
Tuy nhiên, năm 2025, tiêu chí để thuộc nhóm nước thu nhập cao là GNI trên đầu người 13.925 USD trở lên. Thông thường, WB nâng mức tiêu chí lên khoảng 2,5%/năm. Do đó, mức tối thiểu của tiêu chí thu nhập cao vào 2045 sẽ lên tới khoảng 25.000 USD.
Trong khi đó, thời gian từ nay đến 2045 chỉ còn 20 năm, vì vậy theo các chuyên gia, để có thể bước vào hàng ngũ các nước giàu, thu nhập cao, Việt Nam sẽ phải tăng trưởng GDP trung bình hàng năm từ 8% trở lên liên tục trong thời gian dài.
Bên cạnh đó, theo dự báo, Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng (giai đoạn nhóm dân số trong độ tuổi lao động (15 - 64) chiếm tỉ trọng cao nhất), vào khoảng năm 2036 và làm chậm tăng trưởng khoảng 0,9 điểm phần trăm/năm. Do đó, không thể tiếp tục mở rộng tăng trưởng dựa chủ yếu vào tích lũy vốn và nguồn lao động dồi dào, mà buộc phải dựa vào cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Nói cách khác, mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số là “lời giải” bắt buộc, là yêu cầu cấp thiết, là yếu tố bảo đảm để Việt Nam bứt phá, thay đổi vị thế quốc gia, hiện thực hóa những mục tiêu chiến lược. Không chỉ là đích đến, tăng trưởng 2 con số còn là đòi hỏi khách quan từ thực tiễn đất nước khi “nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, công nghệ”, “sập bẫy thu nhập trung bình”, “chưa giàu đã già”… đang ngày càng hiện hữu.
Phải khẳng định rằng, mục tiêu tăng trưởng cao trong thời gian dài không phải được đặt ra bằng cảm tính hay ý chí chủ quan, không phải chạy theo thành tích hay tư duy nóng vội, mà là bài toán chiến lược, đòi hỏi tất yếu của tương lai dân tộc. Thực tiễn cho thấy, hầu hết các quốc gia muốn vượt qua bẫy thu nhập trung bình và thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đều phải trải qua giai đoạn tăng trưởng rất cao trong thời gian đủ dài để tạo ra bước nhảy vọt về năng lực sản xuất, tích lũy vốn, hạ tầng, khoa học công nghệ, sức mạnh quốc gia. Một đất nước muốn trở nên giàu mạnh, muốn có nguồn lực cho quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ và phúc lợi xã hội thì phải có một nền kinh tế đủ mạnh.
Cơ hội tốt nhất, đồng thời cũng là cơ hội hiếm hoi
Với Việt Nam, yêu cầu ấy càng cấp thiết hơn trong bối cảnh thế giới đang thay đổi với tốc độ chưa từng có. Cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đang tạo ra cả thời cơ lẫn sức ép rất lớn. Việt Nam đang đứng trước cơ hội tốt nhất, đồng thời cũng là cơ hội hiếm hoi, nếu không tăng tốc phát triển, không “quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt” sẽ bị tụt lại phía sau.
Thực tế, sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã, đang hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi nhất, ở “điểm nút” lịch sử để có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn, bền vững hơn. Năm 2025, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức từ cả trong và ngoài nước nhưng Việt Nam tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện, đột phá, nhiều điểm sáng nổi bật. Trong đó đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu giai đoạn 2021 - 2025, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, tăng trưởng mạnh mẽ 8,02%.
Đặc biệt, Việt Nam còn có nền tảng chính trị - xã hội ổn định với khối đại đoàn kết toàn dân tộc “đồng tâm, đồng sức, đồng lòng”; có quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường; độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao.
Việt Nam đã tích cực tham gia mạng lưới các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tận dụng sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu; có nguồn nhân lực năng động, có khả năng tiếp cận nhanh với khoa học công nghệ hiện đại; dư địa rất lớn phát triển kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo; có thị trường nội địa rộng lớn với hơn 100 triệu dân; là điểm đến hấp dẫn của du khách quốc tế; và nhất là mang trong mình khát vọng vươn lên mạnh mẽ.
Những yếu tố trên là những điều kiện, nền tảng hết sức căn cốt để Việt Nam tự tin, vững vàng bước vào giai đoạn phát triển mới, tăng trưởng cao, bền vững, sẵn sàng bứt phá, “cất cánh”, “hóa rồng”. Thực tế, quá trình hướng đến mục tiêu tăng trưởng 2 con số đã khơi dậy trong toàn xã hội một tinh thần phát triển mới, tinh thần của một dân tộc không chấp nhận đứng yên trong thời đại cạnh tranh toàn cầu; một dân tộc từng chiến thắng những chiến tranh, đói nghèo, tụt hậu; nay quyết tâm vươn lên trở thành một quốc gia giàu mạnh, hùng cường, hạnh phúc.
(Còn tiếp)
Đ.Anh - H.Toản - Q.Cường