Đầu tư công quy mô kỷ lục: Thay đổi cách huy động nguồn lực bền vững

Đầu tư công quy mô kỷ lục: Thay đổi cách huy động nguồn lực bền vững
2 giờ trướcBài gốc
Quy mô vốn kỷ lục và yêu cầu siết chặt tính khả thi
Theo phương án Chính phủ trình Quốc hội, kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 có tổng nguồn vốn khoảng 8,22 triệu tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương khoảng 3,8 triệu tỷ đồng và ngân sách địa phương khoảng 4,42 triệu tỷ đồng. Quy mô này cao hơn rất nhiều so với tổng mức vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025, khoảng 2,87 triệu tỷ đồng, cho thấy xu hướng mở rộng mạnh mẽ vai trò của đầu tư công trong dẫn dắt tăng trưởng kinh tế.
Trong giai đoạn trước, việc cơ cấu lại danh mục đầu tư đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận. Tổng số dự án được bố trí vốn đã giảm xuống còn khoảng 4.652 dự án, qua đó từng bước khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún. Ước tính đến hết năm 2025, tổng giải ngân đạt khoảng 3,02 triệu tỷ đồng, cao hơn kế hoạch nhờ tăng thu và bổ sung nguồn từ ngân sách địa phương. Nguồn lực đầu tư công cũng được tập trung cho các công trình có tính lan tỏa cao, với hơn 3.000 km đường bộ cao tốc và khoảng 1.700 km đường ven biển được hoàn thành trong giai đoạn. Cùng với đó, cơ cấu chi ngân sách đã có sự chuyển dịch tích cực khi chi đầu tư phát triển chiếm khoảng 32% tổng chi ngân sách nhà nước, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Quốc hội Phan Văn Mãi, những hạn chế mang tính hệ thống vẫn chưa được xử lý triệt để. Hệ số ICOR vẫn ở mức khoảng 6,4, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chưa đạt kỳ vọng; Đồng thời, tỷ lệ giải ngân vốn nước ngoài bình quân chỉ đạt khoảng 52,7%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu trên 90%. Các chương trình mục tiêu quốc gia tiếp tục gặp khó khăn trong giải ngân do thủ tục phức tạp, trong khi tình trạng chuyển nguồn kéo dài làm suy giảm kỷ luật ngân sách và hiệu quả đầu tư.
Một thực tế đáng lưu ý là số vốn ngân sách trung ương chưa đủ điều kiện phân bổ còn khoảng 2,78 triệu tỷ đồng, tương đương 73% tổng vốn kế hoạch. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc nhiều dự án chưa hoàn tất thủ tục đầu tư, chưa đủ điều kiện để bố trí vốn. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng chuẩn bị dự án, bởi nếu danh mục dự án không được hoàn thiện kịp thời, tiến độ triển khai và giải ngân sẽ tiếp tục gặp khó khăn, làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Bên cạnh đó, việc mở rộng quy mô đầu tư công trong khi năng lực chuẩn bị dự án còn hạn chế cũng làm gia tăng áp lực về vật liệu xây dựng, nguồn nhân lực và cân đối ngân sách, đặc biệt trong bối cảnh mục tiêu giải ngân được đặt ở mức rất cao, trên 95%.
Điểm nghẽn nằm ở tiến độ giao vốn và năng lực tổ chức thực hiện
Qua thảo luận tại tổ, các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) cơ bản đồng thuận với đánh giá của Chính phủ và cơ quan thẩm tra. Một trong những vấn đề nổi bật là tình trạng chậm giao vốn các chương trình mục tiêu quốc gia khiến địa phương gặp nhiều khó khăn trong tổ chức thực hiện. Việc giao vốn chậm không chỉ ảnh hưởng đến tiến độ thi công mà còn dẫn đến tình trạng dồn giải ngân vào cuối năm, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn và tiềm ẩn rủi ro về chất lượng công trình.
Các ý kiến tại tổ cho rằng, đối với những chương trình đã được triển khai ổn định trong nhiều năm, cần có cơ chế giao vốn sớm ngay từ đầu năm, thay vì tiếp tục kéo dài quy trình phân bổ như hiện nay. Yếu tố thời vụ cũng được nhấn mạnh là một rào cản đáng kể đối với khả năng hấp thụ vốn, đặc biệt tại các địa phương có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Khi mùa mưa đến sớm, thời gian thi công bị rút ngắn đáng kể, nếu không giao vốn kịp thời sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ dự án.
Ngoài ra, trong bối cảnh giá cả vật liệu xây dựng và chi phí đầu vào biến động, việc thiếu cơ chế linh hoạt trong điều chỉnh dự án khiến địa phương khó chủ động trong triển khai. Bên cạnh đó, một số ý kiến cũng phản ánh những khó khăn từ môi trường kinh tế, khi giá cả đầu vào sản xuất tăng cao, trong khi giá nông sản có xu hướng giảm, làm gia tăng áp lực lên khu vực sản xuất.
Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập của người dân mà còn làm suy giảm hiệu quả lan tỏa của các chương trình đầu tư công, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và giảm nghèo.
Từ thực tiễn, ĐBQH Nguyễn Việt Hà (Đoàn Tuyên Quang) cho rằng, để bảo đảm tính khả thi của các mục tiêu này, cần đặc biệt chú trọng đến việc đánh giá đầy đủ hơn vai trò và thực trạng của khu vực kinh tế tư nhân - một động lực quan trọng của nền kinh tế. Thực tế cho thấy, khu vực này hiện đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% thu ngân sách và sử dụng tới 82% lực lượng lao động, song vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thể hiện qua việc có tới 91,8 nghìn doanh nghiệp rút khỏi thị trường chỉ trong quý I/2026. Do đó cần làm rõ nguyên nhân của tình trạng này để thiết kế chính sách phù hợp.
Những vướng mắc về đất đai, quy hoạch, thủ tục hành chính tiếp tục là rào cản lớn đối với hoạt động sản xuất - kinh doanh. Cần đánh giá toàn diện việc triển khai Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt là các mục tiêu cắt giảm điều kiện kinh doanh, chi phí tuân thủ và thời gian xử lý thủ tục hành chính. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế rà soát định kỳ việc thực hiện các nghị quyết mang tính đột phá, bảo đảm chính sách được triển khai thực chất, đồng bộ, qua đó nâng cao năng lực hấp thụ vốn và tạo nền tảng bền vững cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.
Áp lực lên hệ thống tài chính và nhu cầu chuyển dịch cấu trúc vốn
Từ các cảnh báo của cơ quan thẩm tra và thực tiễn triển khai, vấn đề mang tính cấu trúc được đặt ra là trong bối cảnh nhu cầu vốn đầu tư trung và dài hạn tăng mạnh, việc tiếp tục dựa chủ yếu vào ngân sách nhà nước và tín dụng ngân hàng sẽ tạo áp lực lớn lên hệ thống tài chính. Thực tế trong giai đoạn vừa qua cho thấy, định hướng “lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư xã hội” chưa đạt như kỳ vọng khi số lượng dự án PPP còn hạn chế, nhiều dự án phải chuyển sang đầu tư công, làm gia tăng áp lực lên ngân sách. Điều này phản ánh việc huy động nguồn lực ngoài nhà nước chưa tương xứng với tiềm năng.
Trong bối cảnh đó, việc Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội nhấn mạnh yêu cầu phát triển các mô hình PPP và huy động nguồn lực xã hội cho thấy định hướng chuyển dịch quan trọng trong cách tiếp cận vốn đầu tư phát triển. Khi quy mô đầu tư công tăng mạnh, nếu không có các kênh huy động vốn bổ sung, áp lực sẽ tiếp tục dồn lên ngân sách và hệ thống tín dụng. Trong khi đó, thực tế cho thấy hệ thống ngân hàng vẫn đang đóng vai trò cung ứng vốn chủ đạo, kể cả đối với các dự án trung và dài hạn. Điều này tiềm ẩn rủi ro mất cân đối kỳ hạn và hạn chế khả năng phân bổ vốn hiệu quả trong nền kinh tế.
Chính vì vậy, việc phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu trở thành một yêu cầu khách quan nhằm đa dạng hóa kênh huy động vốn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và nâng cao tính bền vững của hệ thống tài chính.
Cùng với đó, việc khuyến khích khu vực tư nhân tham gia sâu hơn vào các dự án hạ tầng không chỉ giúp giảm gánh nặng cho ngân sách, mà còn góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư thông qua cơ chế thị trường. Những yêu cầu này cho thấy, bài toán đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 không thể chỉ giải quyết trong phạm vi phân bổ và giải ngân vốn, mà cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển hệ thống tài chính và huy động nguồn lực của nền kinh tế.
Trần Hương
Nguồn TBNH : https://thoibaonganhang.vn/dau-tu-cong-quy-mo-ky-luc-thay-doi-cach-huy-dong-nguon-luc-ben-vung-180809.html