Hạ tầng viễn thông từng bước được đầu tư đồng bộ tại các địa bàn vùng cao, vùng khó khăn. Trong ảnh: Cán bộ VNPT Thái Nguyên hướng dẫn người dân xóm Na Sàng, xã Vô Tranh kết nối Internet không dây băng thông rộng.
Những công trình hợp ý dân
Những ngày đầu tháng 6, chúng tôi có dịp trở lại tổ dân phố Đầm Mương 14, phường Phúc Thuận. Sau gần một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, diện mạo nơi đây đã có nhiều đổi thay. Tuyến đường bê tông rộng hơn 5m dẫn vào tổ dân phố vừa hoàn thành, khang trang, sạch đẹp.
Đón chúng tôi với niềm vui hiện rõ trên khuôn mặt, ông Lại Văn Sìn, Bí thư Chi bộ kiêm Tổ trưởng tổ dân phố Đầm Mương 14, phấn khởi cho biết: Cách đây hơn một năm, tuyến đường trong tổ chỉ rộng hơn 3m, xe cơ giới đi lại rất khó khăn. Khi địa phương thông báo chủ trương mở rộng đường bằng nguồn vốn Nhà nước hỗ trợ, người dân thực hiện bàn giao mặt bằng, Ban Công tác Mặt trận cùng các đoàn thể đã đến từng hộ tuyên truyền, vận động.
“Tổ có 104 hộ dân với 437 nhân khẩu, trong đó đồng bào dân tộc Sán Dìu chiếm hơn 97%. Dù đời sống còn nhiều khó khăn nhưng khi nghe chủ trương mở đường, bà con đã đồng thuận đối ứng phục vụ công tác giải phóng mặt bằng”, ông Lại Văn Sìn chia sẻ.
Tuyến đường tổ dân phố Đầm Mương 14 được đầu tư từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với tổng kinh phí hơn 4,3 tỷ đồng, trong đó người dân đóng góp gần 500 triệu đồng.
Công trình hoàn thành không chỉ giúp việc đi lại thuận lợi hơn mà còn mở rộng cơ hội giao thương. Nông sản được thu mua tận nơi bằng xe cơ giới, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.
Xã Thanh Thịnh dành nhiều nguồn lực nâng cấp hệ thống giao thông.
Cũng trên địa bàn phường Phúc Thuận, tổ dân phố Đồng Muốn là nơi sinh sống của 67 hộ dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao Quần Chẹt. Trước đây, khu vực này thường xuyên bị cô lập mỗi khi mưa lũ do chưa có cầu kiên cố bắc qua suối.
Hai năm trở lại đây, từ nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia, địa phương được đầu tư xây dựng cầu cứng, nâng cấp hệ thống giao thông, kênh mương thủy lợi và điện chiếu sáng theo hướng đồng bộ.
Ông Đặng Văn Tuất, Bí thư Chi bộ tổ dân phố Đồng Muốn, cho biết: Từ một địa bàn còn nhiều khó khăn, đến nay Đồng Muốn cơ bản không còn hộ nghèo, hộ cận nghèo; thu nhập bình quân đạt khoảng 43 triệu đồng/người/năm; 100% trẻ em trong độ tuổi được đến trường, không có học sinh bỏ học giữa chừng.
Những đổi thay ở Đồng Muốn là minh chứng cho hiệu quả của các chương trình đầu tư hạ tầng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Là một trong những địa bàn đặc biệt khó khăn của tỉnh, Tràng Xá xác định giao thông là một trong những rào cản lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, những năm qua, xã tập trung huy động nguồn lực, nhất là nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư, nâng cấp hạ tầng giao thông nông thôn.
Trên tuyến đường bê tông mới hoàn thành tại xóm Đồng Bài, xã Tràng Xá, bà Vũ Thị Thủy vui mừng chia sẻ về những đổi thay của quê hương. Trước đây, tuyến đường này chỉ là đường đất nội đồng, mưa lầy, nắng bụi, phương tiện lưu thông chủ yếu là xe máy và xe đạp. Khi địa phương triển khai xây dựng nông thôn mới, vận động nhân dân hiến đất mở đường, bà Thủy cùng nhiều hộ dân trong xóm đều đồng tình hưởng ứng.
Con đường bê tông dài hơn 4km đi qua những vườn thanh long trĩu quả, những cánh đồng lúa xanh mướt, giúp xe cơ giới lưu thông thuận lợi, tạo điều kiện vận chuyển hàng hóa, nông sản và phục vụ nhu cầu đi lại, học tập của người dân.
Nhiều công trình hạ tầng được đầu tư từ các chương trình mục tiêu quốc gia đang góp phần thay đổi diện mạo nông thôn vùng khó khăn. Trong ảnh: Tuyến đường xóm Đồng Bài, xã Tràng Xá vừa được đầu tư xây dựng.
Ông Lý Hoàng Nguyên, Chủ tịch UBND xã Tràng Xá, cho biết: Giai đoạn 2021-2025, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, xã đã huy động gần 55 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước gần 40 tỷ đồng, nhân dân đóng góp gần 15 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hỗ trợ địa phương hơn 11 tỷ đồng để đầu tư hạ tầng.
Từ các nguồn vốn này, nhiều công trình giao thông, điện lưới quốc gia, trường học, trạm y tế, công trình thủy lợi, nhà văn hóa xã và nhà văn hóa xóm được xây dựng. Đến nay, mặc dù là xã đặc biệt khó khăn với đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 61% dân số, song diện mạo Tràng Xá đã có nhiều khởi sắc.
Toàn xã có đường nhựa đến trung tâm; 99% xóm có đường bê tông ô tô đến trung tâm; trên 98% người dân được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; 100% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác. Hiện xã đạt 12/17 tiêu chí nông thôn mới.
Động lực từ các đề án mới
Sau sáp nhập, Thái Nguyên có diện tích tự nhiên hơn 8.375km3 với 92 đơn vị hành chính cấp xã. Bên cạnh các khu vực trung tâm và các xã phía Nam có tốc độ phát triển kinh tế khá, kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, tỉnh vẫn còn 44 xã thuộc diện khó khăn và đặc biệt khó khăn, trong đó 34 xã chưa đạt chuẩn nông thôn mới, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc.
Qua rà soát cho thấy, kết cấu hạ tầng tại các xã khó khăn, xã đặc biệt khó khăn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế, thiếu đồng bộ, nhiều công trình đã xuống cấp. Hệ thống giao thông ở nhiều nơi chưa được cứng hóa, việc đi lại còn khó khăn, nhất là vào mùa mưa lũ; các công trình thủy lợi, điện và cấp nước sinh hoạt chưa đáp ứng yêu cầu.
Khu tái định cư thôn Nà Hỏi, xã Phúc Lộc góp phần tạo điều kiện để người dân an cư, từng bước xây dựng cuộc sống ổn định và phát triển.
Đời sống người dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo tại một số xã vẫn ở mức cao; sản xuất nông, lâm nghiệp chủ yếu nhỏ lẻ, thiếu liên kết chuỗi và điều kiện kết nối thị trường.
Những tồn tại này đang là lực cản đối với phát triển kinh tế - xã hội, làm gia tăng khoảng cách giữa miền núi và khu vực trung tâm.
Từ thực tế đó, tỉnh đã ban hành Đề án Phát triển kết cấu hạ tầng các xã khó khăn và đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026-2030, tập trung huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, bền vững, có trọng tâm, trọng điểm.
Theo Đề án, tổng kinh phí thực hiện dự kiến khoảng 18.430 tỷ đồng, gồm nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình mục tiêu quốc gia; vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 khoảng 2.290 tỷ đồng; vốn huy động từ các doanh nghiệp điện, viễn thông để xóa thôn, bản trắng điện, vùng lõm sóng viễn thông, di động khoảng 205 tỷ đồng; cùng nguồn xã hội hóa, vốn vay tín dụng và các nguồn huy động hợp pháp khác khoảng 1.680 tỷ đồng.
Với nguồn lực này, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển các xã vùng khó khăn, đặc biệt khó khăn theo hướng nông thôn hiện đại, văn minh, sạch đẹp; phát triển kết cấu hạ tầng gắn với chuyển đổi số và hạ tầng số; tạo điều kiện để các địa phương phát triển nhanh hơn, từng bước thu hẹp khoảng cách với khu vực trung tâm, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng và an ninh.
Phát triển sinh kế bền vững là giải pháp quan trọng giúp đồng bào các dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi, vùng cao từng bước vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống.
Cùng với đó, chú trọng nâng cấp hệ thống giao thông nông thôn, ưu tiên các tuyến kết nối trung tâm xã với thôn, bản vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn; bảo đảm 100% tuyến đường cấp xã được cứng hóa; huy động nguồn lực xóa các thôn, bản trắng điện; xây dựng bổ sung trên 2.500 phòng học, phòng bộ môn và phòng hành chính quản trị; bảo đảm điều kiện học tập an toàn, thân thiện cho học sinh vùng khó khăn.
Tỉnh phấn đấu xây mới, nâng cấp các trạm y tế xã, bổ sung trang thiết bị phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh và cung cấp các dịch vụ xã hội thiết yếu cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.
Ông Nguyễn Mỹ Hải, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, khẳng định: Đề án số 21 về Phát triển kết cấu hạ tầng các xã khó khăn và đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026-2030, cùng với Đề án số 20 về Phát triển toàn diện khu vực nông thôn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2026-2030 đang tạo động lực mạnh mẽ để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn theo hướng đồng bộ, từng bước hiện đại; bảo đảm môi trường và cảnh quan nông thôn sáng, xanh, sạch, đẹp, an toàn, giàu bản sắc văn hóa truyền thống.
Các đề án cũng thể hiện quyết tâm chính trị của tỉnh trong phát triển hài hòa giữa các vùng, bảo đảm công bằng xã hội, hướng tới mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau; hoàn thành các mục tiêu xây dựng nông thôn mới và xây dựng Thái Nguyên phát triển toàn diện, bền vững trong giai đoạn mới.
Thu Nhuận