Đầu tư một lần, dùng chung toàn quốc các nền tảng số

Đầu tư một lần, dùng chung toàn quốc các nền tảng số
4 giờ trướcBài gốc
Ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ - Ảnh: Việt Dũng.
Ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, nhấn mạnh tại Diễn đàn Vietnam – Asia DX Summit 2026.
Chúng tôi cũng mong doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia phản hồi, đóng góp ý kiến trong quá trình triển khai thực tế. Bởi quy định hay cơ chế dù đã có, nhưng nếu thực tiễn phát sinh vướng mắc thì vẫn cần tiếp tục điều chỉnh. Tinh thần hiện nay là không còn tư duy “sợ sai nên không làm”. Nếu gặp vướng mắc thì phải chỉ rõ vướng ở đâu, đề xuất phương án tháo gỡ để tiếp tục triển khai.
Ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ.
"Khoảng 5 năm qua, chúng ta đã tập trung mạnh vào hạ tầng, ứng dụng công nghệ, cũng như thúc đẩy chuyển đổi số trong nhiều lĩnh vực. Các mô hình kinh doanh mới, nền tảng số và việc ứng dụng công nghệ trong quản trị, điều hành doanh nghiệp đang phát triển mạnh mẽ", ông Hạnh nhận định.
Tuy nhiên, trong giai đoạn 2025 - 2026, mục tiêu không chỉ dừng ở ứng dụng công nghệ mà quan trọng hơn là phải nâng được năng suất của toàn bộ nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng sẽ phụ thuộc lớn vào mức độ phổ cập công nghệ diện rộng và chất lượng khung thể chế.
GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN MANH MÚN DỮ LIỆU VÀ HẠ TẦNG
Lãnh đạo Cục Chuyển đổi số quốc gia cho rằng muốn phát triển kinh tế số thì trước hết phải có hạ tầng số và dữ liệu đủ mạnh. Thực tế hiện nay cho thấy tình trạng dữ liệu phân tán, cát cứ vẫn diễn ra khá phổ biến.
Đối với khối doanh nghiệp, dữ liệu được xem là tài sản chiến lược, nhưng nếu khung pháp lý chưa đủ mạnh, doanh nghiệp sẽ gặp nhiều rủi ro trong khai thác, chia sẻ và đầu tư dữ liệu. Khi đó, doanh nghiệp buộc phải tăng chi phí tuân thủ, chi phí phòng ngừa rủi ro cũng như tự xây dựng hạ tầng riêng. Điều này vô hình trung làm giảm động lực đổi mới sáng tạo và làm chậm tốc độ tăng trưởng.
Trong khu vực công, các hệ thống dữ liệu và hạ tầng hiện nay chưa thực sự kết nối với nhau. Chính sự thiếu liên thông này khiến nhiều quy trình vẫn bị lặp lại, phát sinh thêm chi phí và thời gian cho doanh nghiệp cũng như người dân.
Thực tế tồn tại một “chi phí vô hình” rất lớn, đó là thời gian người dân và doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục công lặp đi lặp lại, đặc biệt với những thủ tục liên quan đến dữ liệu. Đây cũng là lý do Chính phủ liên tục yêu cầu đẩy mạnh chia sẻ, tái sử dụng dữ liệu, hướng tới nguyên tắc người dân chỉ cần cung cấp thông tin một lần.
Mục tiêu đặt ra là mỗi quy trình khi thực hiện sẽ không phát sinh thêm các chi phí không cần thiết, cả về giấy tờ lẫn chi phí tuân thủ. Các vấn đề liên quan đến dịch vụ công trực tuyến hay hóa đơn điện tử thời gian qua cũng cho thấy yêu cầu cấp thiết phải chuẩn hóa và kết nối dữ liệu tốt hơn.
Bên cạnh đó, đầu tư hạ tầng còn dàn trải, thiếu tập trung. Mỗi cơ quan, mỗi địa phương tự xây dựng hệ thống và năng lực riêng, trong khi rất nhiều hạng mục hoàn toàn có thể dùng chung. Điều này dẫn đến tình trạng đầu tư trùng lặp, tốn kém nguồn lực nhưng hiệu quả kết nối lại không cao.
Để giải quyết vấn đề này, Ban Chỉ đạo Trung ương cũng như Ban Chỉ đạo của Chính phủ đã nhiều lần yêu cầu xây dựng hệ thống nền tảng số và dữ liệu dùng chung ở cấp quốc gia.
Bộ Khoa học và Công nghệ hiện được giao vai trò đầu mối triển khai nhiệm vụ này. Bộ đã ban hành nhiều quyết định phối hợp với các bộ, ngành để xây dựng danh mục nền tảng số dùng chung. Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng tiến độ và hiện trạng triển khai vẫn chưa đạt kỳ vọng.
Diễn đàn Cấp cao Chuyển đổi số Việt Nam - Châu Á 2026 (Vietnam - Asia DX Summit 2026) quy tụ hơn 2.000 đại biểu đến từ 12 nền kinh tế, và 18 tỉnh, thành phố của Việt Nam - Ảnh: Việt Dũng.
Trong quá trình thực hiện, có bộ, ngành triển khai bài bản, rõ ràng; nhưng cũng có nơi vẫn làm theo hướng cục bộ, thiếu tính kết nối, đặc biệt ở các hệ thống dữ liệu địa phương.
Về dài hạn, mục tiêu của nền tảng số dùng chung phải là đầu tư một lần, sử dụng thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Những gì Trung ương đã làm thì địa phương không cần làm lại; nguồn lực cần được ưu tiên cho các nền tảng dùng chung có khả năng phục vụ trên diện rộng.
Ông Hạnh cho biết: "Hiện nay, chúng tôi cũng đang được giao nhiệm vụ rà soát, cập nhật lại toàn bộ hệ thống nền tảng số dùng chung quốc gia. Quá trình này được triển khai với sự tham gia góp ý của doanh nghiệp, các bộ, ngành và địa phương. Dự kiến ngay trong tháng này sẽ hoàn thiện và ban hành danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia phiên bản cập nhật".
Mục tiêu lần cập nhật này là làm rõ hơn trách nhiệm của từng bộ, ngành: đơn vị nào làm nền tảng gì, cung cấp dịch vụ gì, phạm vi dùng chung đến đâu. Đồng thời, các nền tảng cũng phải đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật thống nhất, đặc biệt là yêu cầu kết nối chặt chẽ với dữ liệu quốc gia.
Nguyên tắc xuyên suốt là dữ liệu quốc gia và nền tảng số quốc gia phải gắn kết chặt chẽ với nhau, bảo đảm khả năng chia sẻ, liên thông và khai thác hiệu quả trên toàn hệ thống.
Trong thời gian qua, Việt Nam đã tập trung xây dựng các hệ thống dữ liệu. Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu của chuyển đổi số, khi chưa có dữ liệu bài bản, cách làm phổ biến là xây dựng ứng dụng trước, sau đó mới dần số hóa dữ liệu và đưa dữ liệu trở lại hệ thống.
Khi dữ liệu đầy đủ và các quy tắc xử lý rõ ràng, Việt Nam hoàn toàn có thể tiến tới mô hình dịch vụ công tự động, tức là dịch vụ công không cần người dân phải chủ động thao tác hay đăng ký trong nhiều trường hợp.
Ví dụ như việc gia hạn giấy phép lái xe. Khi dữ liệu đã đầy đủ trên hệ thống, hệ thống có thể tự xác định ai sắp hết hạn giấy phép, còn bao nhiêu tháng, quy trình xử lý mất bao lâu, từ đó tự động gửi cảnh báo hoặc hướng dẫn cho người dân trước khi phát sinh thủ tục.
Xa hơn nữa, có những dịch vụ có thể tiến tới tự động hoàn toàn. Chẳng hạn với các thủ tục liên quan đến trẻ em, khi hệ thống đã có đầy đủ dữ liệu về khai sinh, hộ tịch, bảo hiểm hay y tế thì thay vì người dân phải tự đăng ký từng bước như hiện nay, hệ thống có thể tự động sinh ra các dịch vụ cần thiết và đồng bộ trên toàn hệ thống.
Tất nhiên, để làm được điều đó, điều kiện tiên quyết là dữ liệu phải đầy đủ, chính xác và được chia sẻ liên thông. Khi các hệ thống có thể kết nối và chia sẻ dữ liệu với nhau, mỗi lần tương tác được cắt giảm sẽ đồng nghĩa với việc giảm thêm một phần chi phí xã hội.
"NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO"
Vấn đề thứ hai là phải chuyển trọng tâm từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ và kiến tạo. Thời gian trước, cách thức quản lý vẫn nặng về tiền kiểm, thiên về kiểm soát trước khi cho phép hoạt động. Điều này dẫn tới chi phí tuân thủ cao và làm chậm quá trình đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, Chính phủ hiện nay đã chỉ đạo yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận: giảm bớt các thủ tục không cần thiết, cắt giảm chi phí tuân thủ và chuyển mạnh sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu, dựa trên hậu kiểm và quản trị rủi ro.
Một trong những thay đổi quan trọng nhất trong tư duy quản lý hiện nay là phải chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Nhưng muốn hậu kiểm hiệu quả thì bắt buộc phải có dữ liệu.
"Trước đây, chúng ta quản lý theo hướng kiểm soát trước khi cho phép hoạt động. Điều đó khiến doanh nghiệp phải trải qua nhiều thủ tục, xin phép, xác nhận và chịu chi phí tuân thủ cao. Trong khi đó, với mô hình quản trị mới, doanh nghiệp có thể được trao quyền chủ động hơn, nhưng đi kèm là các quy định rõ ràng và cơ chế giám sát bằng dữ liệu", ông Hạnh chỉ ra.
Tinh thần hiện nay là không còn tư duy “sợ sai nên không làm”. Nếu gặp vướng mắc thì phải chỉ rõ vướng ở đâu, đề xuất phương án tháo gỡ để tiếp tục triển khai.
Ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ.
Đây cũng chính là tinh thần của mô hình “Nhà nước kiến tạo” mà Chính phủ đang thúc đẩy, từ cấp chỉ đạo cao nhất cho tới các cơ quan thực thi.
Liên quan đến cơ chế thử nghiệm, Thủ tướng cũng đã nhiều lần nhấn mạnh tinh thần phải mạnh dạn cho phép triển khai các mô hình mới theo hướng “sandbox”, cho thử nghiệm có kiểm soát trong một khoảng thời gian nhất định, có thể là 2–3 năm để đánh giá hiệu quả thực tế.
Nếu mô hình thử nghiệm chứng minh được hiệu quả thì sẽ hoàn thiện cơ chế, chính sách để triển khai rộng hơn. Ngược lại, nếu còn rủi ro hoặc chưa phù hợp thì tiếp tục điều chỉnh hoặc dừng lại.
Đây gần như là cách tiếp cận bắt buộc trong bối cảnh công nghệ phát triển quá nhanh. Thực tế hiện nay, nhiều công nghệ mới đi trước cả chính sách. Vì vậy, nếu cơ quan quản lý không cho phép thử nghiệm thì sẽ rất khó tạo không gian cho đổi mới sáng tạo.
Lãnh đạo Cục Chuyển đổi số quốc gia cho biết: "Ở góc độ cơ quan làm chính sách, chúng tôi cũng rất mong doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia phản hồi, đóng góp ý kiến trong quá trình triển khai thực tế. Bởi quy trình, quy định hay cơ chế dù đã có, nhưng nếu thực tiễn phát sinh vướng mắc thì vẫn cần tiếp tục điều chỉnh. Tinh thần hiện nay là không còn tư duy “sợ sai nên không làm”. Nếu gặp vướng mắc thì phải chỉ rõ vướng ở đâu, đề xuất phương án tháo gỡ để tiếp tục triển khai".
Hạ Chi
Nguồn VnEconomy : https://vneconomy.vn/dau-tu-mot-lan-dung-chung-toan-quoc-cac-nen-tang-so.htm