Đẩy mạnh thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế biển tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Đẩy mạnh thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế biển tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
2 giờ trướcBài gốc
Đồng chí Trần Anh Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị tại điểm cầu UBND tỉnh.
Ngày 20/5/2026, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 170/KH-UBND về thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế biển tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Kế hoạch được ban hành nhằm cụ thể hóa các chủ trương, mục tiêu của Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 12/2/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và Kế hoạch số 57-KH/TU ngày 10/4/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về Chiến lược phát triển kinh tế biển tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Qua đó nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế vùng ven biển của tỉnh sau hợp nhất; mở ra không gian phát triển mới, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn tới.
Kế hoạch số 170 xác định, phát triển kinh tế biển theo hướng nhanh, bền vững, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên biển, vùng ven biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Lấy phát triển hạ tầng kinh tế biển, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, đô thị ven biển, dịch vụ logistics, du lịch, thủy sản công nghệ cao và các ngành kinh tế biển có lợi thế làm động lực tăng trưởng chủ yếu.
Mục tiêu đến năm 2030 xây dựng kinh tế biển trở thành một trong những động lực phát triển quan trọng của tỉnh; hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng ven biển đồng bộ, từng bước hiện đại; phát triển Khu Kinh tế Ninh Cơ và các khu công nghiệp ven biển trở thành các cực tăng trưởng mới; nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên biển, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái ven biển.
Tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng khu vực ven biển trở thành vùng phát triển năng động, hiện đại, có sức cạnh tranh cao, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh.
Ngay sau khi UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 170, đã có 10 đơn vị (trong đó 5 sở, ban, ngành và 5 địa phương) ban hành kế hoạch hoặc văn bản triển khai thực hiện. Trong đó, nhiều đơn vị đã chủ động cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, chương trình, đề án và dự án thuộc lĩnh vực phụ trách.
Các nội dung trọng tâm tập trung vào hoàn thiện quy hoạch, phát triển Khu Kinh tế Ninh Cơ, các khu công nghiệp ven biển, phát triển hạ tầng kinh tế biển, quản lý tài nguyên và môi trường biển, phát triển thủy sản, bảo vệ hệ sinh thái ven biển, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế biển.
Đã có 11 đơn vị (trong đó 5 sở, ban, ngành và 6 địa phương) thực hiện tổng hợp báo cáo kết quả triển khai thực hiện. Các báo cáo cơ bản bám sát nội dung Kế hoạch, phản ánh đầy đủ tình hình triển khai, những khó khăn, vướng mắc và đề xuất, kiến nghị trong quá trình thực hiện.
Với vai trò là cơ quan được UBND tỉnh giao theo dõi, tổng hợp tình hình triển khai thực hiện Kế hoạch, Sở Tài chính đã phối hợp với các sở, ngành, địa phương rà soát các nhiệm vụ, chương trình, dự án trọng điểm; tổng hợp nhu cầu nguồn lực, tiến độ thực hiện và các khó khăn, vướng mắc phát sinh. Đồng thời tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, bảo đảm Kế hoạch 170 được thực hiện thống nhất, hiệu quả trên phạm vi toàn tỉnh.
Đại diện lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại hội nghị.
Đại diện lãnh đạo Ban Quản lý Khu Kinh tế và các khu công nghiệp tỉnh phát biểu tại hội nghị.
Đại diện Công an tỉnh phát biểu tại hội nghị.
Đại diện lãnh đạo Sở Tài chính phát biểu tại hội nghị.
Qua tổng hợp báo cáo của các sở, ngành, địa phương cho thấy, các cơ quan, đơn vị đã chủ động, tích cực triển khai các nhiệm vụ được giao; bước đầu đạt được một số kết quả quan trọng trong công tác quy hoạch và phát triển không gian kinh tế biển; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; phát triển hạ tầng đê biển, thủy lợi; bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn; phát triển thủy sản; ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế biển.
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế biển của tỉnh vẫn còn một số khó khăn, thách thức: Nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng ven biển rất lớn, trong khi khả năng cân đối ngân sách còn hạn chế. Nhiều dự án trọng điểm có quy mô đầu tư lớn, thời gian chuẩn bị kéo dài và phụ thuộc vào nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương.
Một số nhiệm vụ mới, có tính chất liên ngành như quản lý tổng hợp vùng bờ, điều tra cơ bản tài nguyên môi trường biển, lấn biển, phát triển không gian kinh tế biển và ứng phó với biến đổi khí hậu đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, hướng dẫn chuyên ngành và huy động nguồn lực thực hiện.
Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Anh Dũng phát biểu kết luận hội nghị.
Kết luận hội nghị, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Anh Dũng nhấn mạnh, phát triển kinh tế biển là chủ trương có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh và bền vững của tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn tới, vì vậy, các sở, ban, ngành và các địa phương cần tích cực hơn nữa nhằm cụ thể hóa các nhiệm vụ được giao. Đồng thời yêu cầu hàng tháng, các sở, ban, ngành, địa phương thực hiện nghiêm việc báo cáo tình hình triển khai Kế hoạch số 170. Tăng cường công tác phối hợp, thông tin kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện.
Đồng chí cũng yêu cầu các cơ quan chuyên môn tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy hoạch, chương trình, đề án và danh mục dự án trọng điểm phục vụ phát triển kinh tế biển. Các cơ quan liên quan tham mưu cân đối, lồng ghép các nguồn vốn để ưu tiên đầu tư cho các công trình trọng điểm, các dự án bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế- xã hội vùng ven biển bền vững.
Minh Đường-Ngọc Linh
Nguồn Ninh Bình : https://baoninhbinh.org.vn/day-manh-thuc-hien-chien-luoc-phat-trien-kinh-te-bien-tinh-ninh-binh-den-nam-20-260610140337554.html