Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong cơ cấu gạo xuất khẩu năm 2026 sẽ tiếp tục nghiêng mạnh về gạo chất lượng cao và gạo thơm. Ảnh: Chu Khôi.
Thách thức hiện hữu
Thống kê từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NNMT) cho biết, tháng 1/2026, Việt Nam xuất khẩu ước đạt 600 nghìn tấn gạo, kim ngạch 370 triệu USD, tăng 12,4% về lượng và 16,9% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân đạt 616,6 USD/tấn, tăng 4%. Dù kết quả xuất khẩu gạo tháng 1 khởi đầu khả quan nhưng theo Bộ NNMT xuất khẩu gạo trong năm 2026 sẽ gặp không ít thách thức.
Đề cập về những khó khăn của ngành gạo trong năm 2026, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), nhận định năm 2026 sẽ nhiều thách thức do nguồn cung thế giới dồi dào. Kế hoạch xuất khẩu điều chỉnh còn khoảng 7 triệu tấn, phù hợp định hướng giảm dần sản lượng xuống 4 triệu tấn vào năm 2030 theo Quyết định 583 của Thủ tướng Chính phủ – giảm lượng để tăng chất.
Đây là sự thay đổi mang tính chiến lược từ “bán sản lượng” sang “bán giá trị”. Nhưng trong ngắn hạn, khi vụ Đông Xuân thu hoạch rộ sau Tết, nếu không có giải pháp tài chính kịp thời, nguy cơ giá lúa giảm sâu là hiện hữu.
Ở góc độ DN, ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH SX-TM Phước Thành IV (Vĩnh Long) cũng cho rằng, năm 2025 đã là một năm khó khăn đối với ngành gạo. Bước sang năm 2026, tình hình vẫn chưa có nhiều tín hiệu khả quan. Hiện nay, các DN chủ yếu nắm bắt thông tin thị trường xuất khẩu để theo dõi diễn biến. Về số lượng hợp đồng ký mới không dồi dào như các năm trước. Nguyên nhân lớn nhất là tồn kho tại nhiều quốc gia nhập khẩu vẫn ở mức khá cao. Khi lượng dự trữ còn lớn, các DN nhập khẩu chưa vội mua vào, hoặc nếu có mua khối lượng cũng rất nhỏ, mang tính thăm dò. Giá cả vì vậy cũng không được tốt. Với những DN còn hàng tồn kho từ trước thì có thể xoay xở bán ra, còn nếu mua mới vào thời điểm này gần như không có lợi nhuận.
Cũng theo ông Thành, Philippines vốn là thị trường truyền thống của gạo Việt Nam đã có động thái mua trở lại nhưng chủ yếu là các đơn hàng nhỏ lẻ. Họ không ký hợp đồng lớn như trước. Mặt bằng giá cũng ở mức thấp, nên DN phải cân nhắc rất kỹ.
Bên cạnh đó, vụ Đông Xuân, vụ thu hoạch lớn nhất trong năm đang đến gần. Khi nguồn cung trong nước tăng mạnh, tồn kho quốc tế còn cao, áp lực lên thị trường là điều khó tránh khỏi. Không chỉ tồn kho của các nước nhập khẩu lớn mà ngay cả tồn kho trong nước hiện cũng còn tương đối.
Gia tăng tỷ trọng gạo chất lượng cao
Bộ NNMT cho biết, diện tích gieo cấy lúa cả nước năm 2026 ước đạt khoảng 7,09 triệu ha, giảm hơn 36.000ha so với năm trước. Tuy nhiên, nhờ năng suất bình quân tăng lên 61,4 tạ/ha, tổng sản lượng lúa cả năm vẫn đạt khoảng 43,55 triệu tấn, tăng nhẹ so với năm 2025. Diễn biến này cho thấy xu hướng nhất quán của ngành lúa gạo đó là giảm dần diện tích nhưng bù đắp bằng năng suất và chất lượng.
Trong bối cảnh thị trường năm 2026 được dự báo còn nhiều biến động, Bộ NNMT cho biết, cơ cấu gạo xuất khẩu năm 2026 sẽ tiếp tục dịch chuyển theo hướng gia tăng tỷ trọng gạo chất lượng cao và gạo thơm. Theo đó, cơ cấu gạo xuất khẩu năm 2026 sẽ tiếp tục nghiêng mạnh về gạo chất lượng cao và gạo thơm, với sản lượng ước khoảng 5,8 triệu tấn, chiếm tới 75% tổng lượng xuất khẩu. Gạo nếp khoảng 773.000 tấn (10%), phần còn lại là gạo phục vụ chế biến, chiếm khoảng 15%.
Định hướng này phản ánh sự thay đổi rõ rệt trong tư duy phát triển ngành hàng. Thay vì cạnh tranh trực diện ở phân khúc gạo trắng thông thường có giá chỉ khoảng 300-350 USD/tấn, gạo Việt Nam đang dịch chuyển sang các dòng gạo thơm, gạo đặc sản có giá trị cao hơn và ít chịu áp lực cạnh tranh. nhiều chuyên gia cho rằng, định hướng phát triển gạo thơm, gạo đặc sản và “gạo xanh phát thải thấp” là lựa chọn phù hợp.
Chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy nhận định, đây là chiến lược “định vị ngược dòng” của ngành hàng lúa gạo Việt Nam, không chạy theo số lượng mà đầu tư vào chất lượng để đi sâu vào các phân khúc cao cấp, ít cạnh tranh và bền vững hơn.
Thực tế, Việt Nam đang là quốc gia tiên phong triển khai sản xuất lúa gạo phát thải thấp trên quy mô lớn. Theo Bộ NNMT, tỷ lệ gạo chất lượng cao trong tổng lượng xuất khẩu đã đạt khoảng 89%, trong đó 60 - 70% là gạo thơm và gạo đặc sản. Các thương hiệu như ST24, ST25, Hạt Ngọc Trời, VJ Pearl Rice… đang dần khẳng định vị thế tại EU, Mỹ và Nhật Bản.
Bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu dòng gạo chất lượng cao, nhiều chuyên gia cũng cho rằng, việc đa dạng hóa thị trường là yêu cầu cấp thiết, đặc biệt là những thị trường Việt Nam chưa tận dụng hết như châu Âu và Mỹ. Đồng thời, rất cần các DN có năng lực tài chính tham gia mua lúa gạo, bình ổn thị trường.
Nêu các định hướng thúc đẩy xuất khẩu năm 2026, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Thanh Hải cho rằng, Bộ Công thương sẽ đẩy nhanh việc hoàn thiện thể chế quản lý trong xuất khẩu gạo. Phối hợp với Bộ NNMT theo dõi sản lượng gạo để có biện pháp giúp nông dân tiêu thụ hết lượng lúa gạo. Ngoài ra, Bộ Công thương cũng sẽ đàm phán, ký kết với các thị trường về thương mại mặt hàng gạo và đẩy mạnh triển khai, hỗ trợ DN đưa sản phẩm này vào các thị trường mới. Với các thị trường đã ký kết hợp tác về thương mại gạo như Singapore sẽ đẩy nhanh tiến độ thực thi.
Cũng theo Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, hiện nay Việt Nam đã ký kết Hiệp định thương mại tự do (FTA) với EU, Vương quốc Anh, trong đó có các cam kết về gạo, vì vậy cần đẩy mạnh tận dụng ưu đãi từ các FTA đã ký, khai mở các thị trường mới, tiềm năng.
Khanh Lê