Doanh nghiệp Việt Nam gặp không ít khó khăn trong mở rộng thị trường xuất khẩu. Ảnh: TTXVN
Đây là lần đầu tiên VCCI công bố một báo cáo toàn diện về khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam. Cùng với PCI, BPI được xây dựng từ cuộc khảo sát quy mô rộng lớn, với sự tham gia của 3.546 doanh nghiệp tư nhân trong nước, 586 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và 1.001 hộ kinh doanh trên toàn quốc. BPI truyền tải ba thông điệp, đó là: Khu vực kinh tế tư nhân đã vượt qua giai đoạn “phòng thủ” và sẵn sàng bứt phá; Năm có số doanh nghiệp gia nhập thị trường đạt kỷ lục 297.500 doanh nghiệp (tăng 27,4% so với năm 2024); Niềm tin của doanh nghiệp vào cải cách đang phục hồi mạnh mẽ..
BPI được đánh giá là một trong những cuộc điều tra khu vực kinh tế tư nhân toàn diện nhất Việt Nam trong nhiều năm qua; qua đó bổ sung một góc nhìn mới khi đánh giá khả năng vận hành của doanh nghiệp dựa trên chất lượng "đầu vào thể chế", "đầu ra thị trường", năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số...
Những cơ sở dữ liệu và con số được nêu trong các báo cáo (PCI, BPI) đã cho thấy, cải cách về thể chế đang đi đúng hướng, khoảng cách giữa thiết kế chính sách ở Trung ương và năng lực thực thi chính sách tại cơ sở đang dần được thu hẹp.
Đây là minh chứng thể hiện tầm nhìn và đường lối đúng đắn của Đảng khi Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đi vào cuộc sống. Đảng và Nhà nước đã xác lập quyết tâm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, đạt tốc độ tăng trưởng GDP hai con số và trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ này. Để hiện thực hóa khát vọng đó, không thể không giải phóng triệt để sức sản xuất của khu vực tư nhân; đặc biệt là không thể thiếu một môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi, minh bạch, công bằng và sự gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, hộ kinh doanh và bộ máy công quyền.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Ảnh: TTXVN
Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân tuy có những bước phát triển mạnh mẽ, nhưng vẫn còn nhiều thách thức, nhất là trong điều kiện thị trường thế giới có nhiều biến động. Vì vậy, để kinh tế tư nhân trở thành đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW, cần tạo môi trường kinh doanh minh bạch và hợp lý để doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh đó, cần có chiến lược phù hợp cho từng nhóm doanh nghiệp, từ doanh nghiệp lớn đến doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, với các giải pháp cụ thể trong việc hỗ trợ đào tạo, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực quản trị...
Phải khẳng định, sau gần một năm thực hiện tinh giản bộ máy hành chính, triển khai mô hình chính quyền hai cấp, các ngành, địa phương đã nỗ lực thực hiện cam kết tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động. Đặc biệt, thông qua các cuộc đối thoại trực tiếp, các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương đã thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, giúp các doanh nghiệp, nhà đầu tư ngày càng tin tưởng vào chính sách ưu việt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong bối cảnh hội nhập càng sâu rộng của Việt Nam.
Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng khoa học công nghệ, tự động hóa. Ảnh: TTXVN
Mặc dù vậy, những kết quả đạt được trong công cuộc tinh giản bộ máy, cải cách thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực, ở một số tỉnh, thành phố vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, phát triển.
Lãnh đạo nhiều doanh nghiệp cho biết, họ vẫn gặp không ít khó khăn trong tiếp cận các chính sách hỗ trợ từ Nhà nước, đặc biệt là các chính sách về tín dụng, thuế và đào tạo nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp (đặc biệt là với doanh nghiệp nhỏ và vừa) đang gặp khó khăn mở rộng thị trường, đang vận hành ở ngưỡng lợi nhuận mỏng; không thể vay vốn nếu thiếu tài sản đảm bảo; vướng mắc về thủ tục hành chính vẫn là rào cản lớn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp… Đơn cử, trong lĩnh vực quản lý đất đai, thủ tục hành chính tuy có được cải thiện, nhưng tình trạng vòi vĩnh, gây phiền hà của người thực thi công vụ chưa được ngăn chặn triệt để. Bởi vậy, việc cải cách thể chế khi vận hành chính quyền địa phương hai cấp đòi hỏi cần thực hiện bài bản, quyết liệt hơn nữa.
Những khó khăn, thách thức vừa nêu không phải thể hiện sự bi quan, mà để nhận diện đúng điểm nghẽn để có giải pháp tháo gỡ; đồng thời cũng là dữ liệu quý báu để các cơ quan hoạch định chính sách ở cả Trung và các địa phương đo lường được kết quả thực chất của cải cách.
Có lẽ, câu hỏi phải thực thi chính sách như thế nào để doanh nghiệp thực sự cảm nhận được sự thay đổi…, đòi hỏi sự quan tâm, nỗ lực rất lớn của các ngành, các cấp, chính quyền địa phương khi thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị trong thời kỳ mới.
Yến Nhi