Thiếu cơ chế khuyến khích
Việt Nam đang đứng trước thời cơ lịch sử để thực hiện hành trình khát vọng vươn xa của đất nước. Trên hành trình đó, cơ hội và thách thức tồn tại song hành, tuy nhiên với tinh thần doanh nghiệp dân tộc, nhiều doanh nghiệp đang nỗ lực từng ngày để đưa các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam vươn tầm khu vực và quốc tế.
Gặp chúng tôi trong những ngày cuối năm Ất Tỵ 2025, ông Vũ Văn Chiến, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường (chuyên sản xuất vật liệu xây dựng xanh, thân thiện với môi trường) chia sẻ, công ty là đơn vị tiên phong tại Việt Nam trong việc làm chủ công nghệ sản xuất bê tông khí chưng áp, với sản phẩm chính là gạch bê tông khí chưng áp và tấm bê tông ALC (sử dụng rộng rãi trong xây dựng dân dụng, công nghiệp...), đã được xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á như Philippines, Singapore…. Đây hoàn toàn là sản phẩm “make in Việt Nam”, do doanh nghiệp nghiên cứu, thiết kế, làm chủ công nghệ, sản xuất đạt tiêu chuẩn quốc gia và tương đương các tiêu chuẩn quốc tế như Đức, Trung Quốc cùng một số tiêu chuẩn của Nhật Bản, Mỹ.
Tuy nhiên, việc phát triển sản phẩm “make in Việt Nam” không dễ dàng, đặc biệt trong lĩnh vực đòi hỏi công nghệ cao và vốn lớn, do có có một số vướng mắc như: Thiếu cơ chế khuyến khích mạnh mẽ; chi phí đầu tư cho công nghệ, R&D và đào tạo nhân lực thường rất lớn, không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được.
“Trong kỷ nguyên mới, doanh nghiệp Việt đang đứng trước thời cơ và thách thức để khẳng định năng lực và đưa sản phẩm của mình vươn tầm quốc tế. Chúng tôi rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc cho vay vốn với lãi suất ưu đãi và có bảo lãnh đầu tư để mở rộng, nâng cao công suất nhà máy; nghiên cứu phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Có chính sách giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế xuất khẩu cho doanh nghiệp có sản phẩm “make in Việt Nam” đã ghi dấu ấn trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, ưu tiên sử dụng sản phẩm “make in Việt Nam” trong các dự án lớn, giúp doanh nghiệp có thị trường ổn định để đầu tư dài hạn”, ông Chiến đề nghị.
Dây chuyền sản xuất bê tông khí chưng áp, với sản phẩm chính là gạch bê tông khí chưng áp và tấm bê tông ALC của Công ty Cổ phần Sông Đà Cao Cường
Hiện sản phẩm “make in Việt Nam” có thể vươn tầm thế giới chưa có nhiều, theo bà Nguyễn Thị Minh Giang, Đồng sáng lập, Tổng Giám đốc Công ty Đào tạo và Tư vấn Newing, hơn 97% doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hầu hết đều đang gặp hai vấn đề bế tắc: 1 là đi “ngang” (tức là dậm chân tại chỗ), 2 là có cơ hội phát triển nhưng lại thiếu nguồn lực để bứt phá. Vì lẽ đó, các sản phẩm của Việt Nam gặp nhiều thách thức trên hành trình vươn tầm quốc tế.
Thể chế, chính sách là bệ phóng
Trên hành trình “make in Việt Nam”, việc tiếp cận thị trường quốc tế là thách thức lớn, đòi hỏi sản phẩm của doanh nghiệp Việt phải đáp ứng tiêu chuẩn cao, có chiến lược dài hạn về thương hiệu và kênh phân phối.
GS. TS Hoàng Văn Cường, Ủy viên Ủy ban Kinh tế - Tài chính của Quốc hội cho rằng, muốn có những sản phẩm “make in Việt Nam” vươn tầm thế giới, cần có sự hợp lực, liên kết giữa các doanh nghiệp để cùng nâng tầm và đồng hành phát triển, tạo ra sản phẩm chiếm lĩnh thị trường thế giới. Liên kết ở đây không đơn thuần chỉ là liên kết các doanh nghiệp trong nước, mà còn phải liên kết các nhà sản xuất trong nước với các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và các nhà tiêu thụ quốc tế. Hiện nay, để tiếp cận thị trường quốc tế, Nhà nước đã ký rất nhiều các thỏa thuận hợp tác, Hiệp định thương mại, tuy nhiên việc tiếp cận này vẫn đang do chính doanh nghiệp tự thân vận động, thông qua Hội nghị xúc tiến đầu tư, hội chợ thương mại, triển lãm...
“Chúng ta chưa có những chương trình, chiến lược thực sự về việc xúc tiến, kết nối thị trường để doanh nghiệp đưa sản phẩm ra thế giới, rồi là nhu cầu, tiêu chuẩn của thị trường quốc tế ra sao, các doanh nghiệp Việt cũng chưa nắm bắt được, do thiếu thông tin cụ thể. Những việc đó chưa làm tốt, thì làm sao sản phẩm của Việt Nam vươn tầm thế giới được. Cần có những doanh nghiệp đầu đàn, đóng vai trò dẫn dắt, kết nối, làm chủ chuỗi giá trị; Nhà nước tập trung hỗ trợ vốn, công nghệ, đầu tư cho doanh nghiệp đầu đàn đó để dẫn đường cho các doanh nghiệp khác”, GS Cường nhấn mạnh.
“Make in Việt Nam” không chỉ là câu chuyện đơn lẻ của một doanh nghiệp, mà là sự kỳ vọng về một mô hình hợp tác mới, nơi các doanh nghiệp có thể liên kết, chia sẻ nguồn lực và cùng tạo ra giá trị chung, bà Phạm Thị Ngọc Thủy, Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tư nhân (Ban IV) chia sẻ: “Điều mà doanh nghiệp mong muốn không phải là cơ chế xin - cho, mà là mô hình hợp tác “công - tư cùng kiến tạo” - nơi Nhà nước và doanh nghiệp cùng tham gia vào quá trình hoạch định và triển khai chiến lược phát triển. Doanh nghiệp kỳ vọng được cùng Nhà nước thiết kế những chương trình, dự án, chính sách chiến lược, có tính khả thi cao, để các cơ hội quốc gia không chỉ nằm trên giấy, mà được cụ thể hóa thành hành động và kết quả thực tế”.
Tổ hợp tên lửa Trường Sơn do Việt Nam tự nghiên cứu sản xuất
“Make in Việt Nam” là hành trình kiến tạo vị thế mới cho doanh nghiệp Việt vươn ra thị trường quốc tế - là thương hiệu đại diện cho bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam. Để làm được điều đó, thể chế, chính sách phải trở thành bệ phóng để doanh nghiệp dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo và đầu tư, nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ để tạo ra sản phẩm có giá trị cao; xã hội cần tin dùng sản phẩm “make in Việt Nam”, để tạo ra thị trường nội địa với sức tiêu dùng lớn, cổ vũ tinh thần cho doanh nghiệp phát triển.
Một mùa xuân mới đang về trên khắp mọi miền Tổ quốc, mang theo khí thế mới, xung lực mới và khát vọng cao cả về sự phồn vinh, hạnh phúc của một quốc gia, dân tộc. Những sắc thắm của hoa đào, màu xanh của chồi xuân báo hiệu một niềm tin và hy vọng với bước chân mạnh mẽ trên hành trình bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc.
Lê Thanh/VOV.VN