Theo dự thảo nghị định mới về hóa đơn, chứng từ, trên hóa đơn phải ghi tên hàng hóa, dịch vụ (HHDV) theo Quyết định 43/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng (mã cấp 7) hoặc tên, mã HS của hàng hóa nhập khẩu. Quy định này có thể tạo ra sự chuẩn hóa nhất định cho hóa đơn nhưng lại có nhiều điểm chưa hợp lý.
Thứ nhất, cần xem xét đúng mục đích và phạm vi điều chỉnh của Quyết định 43/2018/QĐ-TTg (Quyết định 43). Quyết định này ban hành Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam, chủ yếu phục vụ mục đích thống kê nhà nước, chuẩn hóa dữ liệu thống kê và tổng hợp thông tin kinh tế vĩ mô. Đây không phải văn bản được thiết kế để điều chỉnh tên hàng hóa, vấn đề vốn thuộc các quy phạm pháp luật liên quan đến nhãn hàng hóa, sở hữu trí tuệ, cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng...
Bên cạnh đó, là tiêu thức trên hóa đơn (căn cứ để thanh toán, kế toán), tên HHDV cũng cần phản ánh đầy đủ nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh(1). Nhìn chung, ngành sản phẩm theo Quyết định 43, dù ở cấp chi tiết nhất, vẫn quá rộng để dùng cho gọi tên, chi tiết hóa giao dịch theo nhu cầu của các bên. Đơn cử, doanh nghiệp vẫn có thói quen ghi tên HHDV kèm theo thông tin về hợp đồng mua bán (số, ngày hợp đồng) nhằm thuận tiện cho đối chiếu, hạch toán.
Ngược lại, có trường hợp ngành sản phẩm lại quá chi tiết, chỉ phục vụ thống kê chứ không cần thiết trong giao dịch(2). Tựu chung, việc bắt buộc ghi tên HHDV theo Quyết định 43 vừa không đảm bảo phù hợp các quy định pháp luật về ghi tên hàng hóa, vừa không phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp.
Nếu chưa chứng minh rõ hiệu quả quản lý tương ứng với chi phí xã hội phát sinh, cơ quan soạn thảo nên xem xét lùi thời điểm áp dụng, đánh giá tác động đầy đủ và ưu tiên cơ chế quản lý theo rủi ro thay vì áp dụng bắt buộc trên diện rộng.
Thứ hai, quy định này có thể không phù hợp với pháp luật chuyên ngành và thực tiễn quản lý của từng lĩnh vực. Nhiều ngành nghề hiện đã có hệ thống danh mục tên gọi, tiêu chuẩn hoặc cách định danh HHDV riêng theo quy định chuyên ngành hoặc thông lệ quốc tế. Ví dụ, lĩnh vực dược phẩm sử dụng tên thuốc, hoạt chất và số đăng ký lưu hành; lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán đều có phân loại sản phẩm đặc thù theo luật riêng.
Nếu buộc đồng bộ hoàn toàn theo Quyết định 43 thì có thể phát sinh tình trạng một hàng hóa/dịch vụ phải tồn tại đồng thời nhiều tên gọi khác nhau giữa hóa đơn với hợp đồng, chứng từ khác, kéo theo sự vênh nhau giữa hệ thống thuế/hóa đơn với hệ thống điện tử khác (chẳng hạn như báo cáo tuân thủ chuyên ngành). Điều này làm tăng rủi ro sai lệch dữ liệu, tăng chi phí và thời gian kiểm soát dữ liệu cho doanh nghiệp và tạo ra các khó khăn cho việc kiểm tra chuyên ngành.
Thứ ba, đa số doanh nghiệp hiện không tổ chức quản trị nội bộ, kế toán, bán hàng hoặc quản lý kho theo mã và tên của Quyết định 43. Các hệ thống ERP, quản lý kho, quản lý bán hàng, hóa đơn điện tử... thường được xây dựng theo nhu cầu kinh doanh riêng hoặc chuẩn quốc tế của tập đoàn. Nếu quy định bắt buộc áp dụng Quyết định 43 trên hóa đơn, doanh nghiệp sẽ phải rà soát, đối chiếu và tái cấu trúc toàn bộ danh mục HHDV nội bộ để ánh xạ với hệ thống phân loại thống kê.
Chi phí chuyển đổi hệ thống, sửa phần mềm, đào tạo nhân sự và duy trì đối chiếu dữ liệu sẽ rất lớn, đặc biệt với doanh nghiệp có hàng chục ngàn SKU(3) hoặc dịch vụ biến động thường xuyên. Trong khi đó, lợi ích quản lý thuế mang lại chưa được chứng minh tương xứng.
Thứ tư, thời điểm dự kiến có hiệu lực từ 1-7-2026 (theo thời điểm có hiệu lực của Luật Quản lý thuế 2025) là quá gấp và không bảo đảm tính khả thi trong triển khai. Để đáp ứng yêu cầu này, các doanh nghiệp lập hóa đơn tự động phải rà soát cơ sở dữ liệu hàng hóa/dịch vụ, xây dựng quy tắc mapping với danh mục của Quyết định 43, sửa hệ thống ERP/phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử và hệ thống liên quan khác cũng như API kết nối dữ liệu.
Với các doanh nghiệp lớn hoặc doanh nghiệp có hệ sinh thái số phức tạp, việc thay đổi cần trải qua nhiều bước như phân tích nghiệp vụ, lập trình, kiểm thử, đào tạo và đồng bộ dữ liệu lịch sử (chưa kể thời gian đấu thầu với doanh nghiệp nhà nước). Nếu áp dụng trong thời gian ngắn có thể dẫn đến lỗi hệ thống và rủi ro tuân thủ ngoài ý muốn. Điều này chưa phù hợp với nguyên tắc phải dành thời gian chuyển tiếp hợp lý đối với quy định cần triển khai phức tạp.
Thứ năm, đây là quy định có phạm vi tác động rất lớn nhưng dường như chưa được đánh giá tác động và tham vấn đầy đủ. Việc chuẩn hóa toàn bộ tên hàng hóa, dịch vụ trên hóa đơn theo Quyết định 43 ảnh hưởng đến hầu hết doanh nghiệp ở mọi ngành nghề.
Tuy nhiên, nội dung này không có trong dự thảo ban đầu mà mới chỉ được thêm vào trong dự thảo được hoàn thiện sau quá trình lấy ý kiến rộng rãi. Vì vậy, quy định này chưa được cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp đánh giá tác động cụ thể. Trong khi đó, đây thực chất là thay đổi mang tính cấu trúc dữ liệu và vận hành hệ thống, không đơn thuần là sửa đổi kỹ thuật đơn giản, có thể thực hiện ngay.
Thứ sáu, dự thảo hiện chưa làm rõ mục tiêu chính sách và cơ sở chứng minh hiệu quả quản lý của quy định này. Cần làm rõ việc yêu cầu ghi tên HHDV theo Quyết định 43 nhằm giải quyết chính xác vấn đề gì trong quản lý thuế: chống hóa đơn giả, chống gian lận hoàn thuế, chuẩn hóa dữ liệu hay phục vụ thống kê? Trên thực tế, hành vi gian lận hóa đơn thường liên quan đến giao dịch không có thật, doanh nghiệp ma hoặc giao dịch của người khác; việc chuẩn hóa tên gọi theo danh mục thống kê không chắc giúp giảm đáng kể rủi ro này. Ngược lại, doanh nghiệp tuân thủ tốt lại phải chịu chi phí chuyển đổi rất lớn.
Vì vậy, nếu cơ quan quản lý vẫn thấy cần thiết áp dụng cơ chế chuẩn hóa dữ liệu HHDV, nên cân nhắc phương án quản lý theo rủi ro. Quy định chỉ nên áp dụng đối với một số lĩnh vực, hàng hóa hoặc đối tượng có rủi ro thuế cao, nơi việc định danh chi tiết từng mặt hàng thực sự cần thiết cho công tác quản lý (phân tích rủi ro để phát hiện bất thường).
Bên cạnh đó, không nên áp dụng đối với các ngành có luật chuyên ngành điều chỉnh đặc thù để hạn chế sự chồng chéo. Ngoài các nhóm rủi ro cao, quy định chỉ nên dừng ở cơ chế khuyến khích áp dụng tên sản phẩm tại Quyết định 43 (theo cách tự nguyện), tạo sự linh hoạt cần thiết và tôn trọng thỏa thuận của các bên trong giao dịch dân sự.
Trong bối cảnh Chính phủ đang thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính và giảm chi phí tuân thủ, việc áp dụng đại trà yêu cầu ghi tên HHDV theo Quyết định 43 cần được cân nhắc thận trọng hơn. Nếu chưa chứng minh rõ hiệu quả quản lý tương ứng với chi phí xã hội phát sinh, cơ quan soạn thảo nên xem xét lùi thời điểm áp dụng, đánh giá tác động đầy đủ và ưu tiên cơ chế quản lý theo rủi ro thay vì áp dụng bắt buộc trên diện rộng.
(1) Điểm a khoản 5 điều 26 Luật Quản lý thuế 2025
(2) Ví dụ, hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng tại Quyết định 43 được chi tiết đến mức phải làm rõ có hay không có thế chấp tài sản. Hóa đơn thu lãi tiền vay của ngân hàng không cần thiết phải cụ thể như vậy.
(3) Mã phân loại hàng tồn kho (Stock Keeping Unit).
Thái Mạnh Cường