Nhiều người dân đánh giá đề xuất cho phép trừ chi phí giáo dục, y tế khi tính thuế là rất thiết thực, giúp giảm áp lực tài chính trong bối cảnh chi tiêu ngày càng tăng
Nâng cao chất lượng cuộc sống và phúc lợi xã hội
Bộ Tài chính đưa ra lấy ý kiến dự thảo nghị định hướng dẫn một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, trong đó đề xuất mức trừ chi phí y tế và giáo dục khi tính thuế thu nhập cá nhân. Cơ quan soạn thảo đưa ra hai phương án. Phương án 1 cho phép người nộp thuế được trừ tối đa 20 triệu đồng/năm khoản chi y tế và 21 triệu đồng/năm cho giáo dục - đào tạo. Phương án 2 nâng mức này lên nhưng tối đa cho y tế không quá 23 triệu đồng/năm, còn cho giáo dục - đào tạo là 24 triệu đồng/năm.
Khoản chi cho giáo dục - đào tạo là tiền học phí mầm non, phổ thông, nghề nghiệp và đại học theo quy định và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục - đào tạo. Riêng với khoản chi y tế, ngoài hóa đơn, người nộp thuế cần phải có thêm bảng kê chi phí khám chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở y tế. Các khoản chi phải phát sinh trong nước, có hóa đơn chứng từ hợp lệ và không được thanh toán từ các nguồn khác như bảo hiểm, ngân sách hay hỗ trợ của tổ chức, cá nhân. Dự kiến được áp dụng ngay cho kỳ tính thuế năm 2026.
Theo Bộ Tài chính, về lâu dài, chính sách giảm trừ nêu trên sẽ góp phần khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào y tế và giáo dục - đào tạo. Từ đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy sự phát triển của các ngành dịch vụ liên quan, góp phần tăng năng suất lao động. Việc này còn giảm gánh nặng về thuế, tăng thu nhập khả dụng và tạo động lực chi tiêu nhiều hơn cho khâu chăm sóc sức khỏe và học tập, qua đó nâng cao chất lượng cuộc sống và phúc lợi xã hội.
Nhiều người dân đánh giá đề xuất cho phép trừ chi phí giáo dục, y tế khi tính thuế là rất thiết thực, giúp giảm áp lực tài chính trong bối cảnh chi tiêu ngày càng tăng. Tuy nhiên, họ cũng cho rằng quy định về chứng từ cần được hướng dẫn cụ thể và phù hợp hơn với thực tế.
Chị Minh Hường (Hoàng Liệt, Hà Nội) chia sẻ, gia đình chị có con nhỏ đang đi học và bố mẹ lớn tuổi. Trước đề xuất mới về giảm trừ chi phí y tế, giáo dục, chị rất quan tâm vì đây là những khoản chi thiết yếu, chiếm khá nhiều trong chi tiêu chung của cả gia đình. Vừa qua, chị vừa đóng hơn 20 triệu đồng học phí cho con bằng hình thức chuyển khoản. Nhà trường xác nhận đã nộp đủ nhưng không xuất hóa đơn điện tử nếu không yêu cầu ngay thời điểm thanh toán.
“Tôi không rõ biên lai chuyển khoản hay giấy xác nhận của trường có được chấp nhận để giảm trừ thuế hay không. Do đó, cơ quan quản lý nên mở rộng phạm vi chấp nhận chứng từ, chẳng hạn như giấy xác nhận nộp học phí, sao kê ngân hàng, hoặc kết hợp với thẻ sinh viên của con. Như vậy sẽ thuận lợi hơn cho người dân mà vẫn đảm bảo minh bạch”, chị Hường đề xuất.
Tiếp cận theo hướng rõ ràng, linh hoạt
Trong khi đó, một số ý kiến cho rằng nếu quy định quá chặt về hóa đơn điện tử, nhiều người có thể không tiếp cận được chính sách do thực tế các cơ sở cung cấp dịch vụ chưa đồng bộ về chứng từ. Anh Nguyễn Tình (Hà Đông, Hà Nội) cho biết, con anh học trường dân lập, học phí được đóng qua chuyển khoản nhưng không có hóa đơn điện tử. Ngoài ra, con anh còn học thêm tại một trung tâm nhỏ, nơi chỉ cấp phiếu thu do không thuộc diện bắt buộc xuất hóa đơn.
“Những khoản chi này đều là thực tế, nhưng nếu không có hóa đơn điện tử thì liệu có được tính giảm trừ hay không?". Từ thực tế này, anh Tình cho rằng chính sách cần tính đến đặc thù của các cơ sở giáo dục và dịch vụ nhỏ lẻ, đồng thời chấp nhận nhiều loại chứng từ hợp lý hơn, để người dân thực sự được hưởng lợi từ chính sách.
Thấu hiểu những khó khăn này, PGS-TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam chia sẻ, việc cho phép khấu trừ thêm chi phí y tế và giáo dục cho thấy chính sách thuế đã tiến gần hơn với đời sống. Dẫu vậy, cơ chế khấu trừ theo hóa đơn, chứng từ thường thuận lợi hơn cho nhóm có thu nhập trung bình khá trở lên, làm việc trong khu vực chính thức, có hồ sơ tài chính rõ ràng và quen với thủ tục kê khai. Trong khi đó, nhiều người lao động ở khu vực có thu nhập chưa cao dù phát sinh chi y tế, chi học hành cho con cái lại có thể không được hưởng lợi tương xứng vì mức nộp thuế không lớn hoặc chứng từ không đầy đủ.
Nếu thủ tục quá rườm rà, người dân sẽ ngại kê khai và chính sách khó phát huy hiệu quả, do đó, cần đơn giản hóa tối đa thủ tục chứng minh chi phí. Cùng với đó, cần quy định rõ phạm vi các khoản chi được trừ, chẳng hạn được khấu trừ học phí chính khóa, học nghề, đào tạo lại, ngoại ngữ, kỹ năng nghề..., hay chỉ giới hạn ở một số cấp học, PGS-TS Ngô Trí Long chia sẻ.
Cùng chung nhận định này, theo các chuyên gia, việc khống chế mức giảm trừ tối đa bằng một con số cố định là không hợp lý. Mức giảm trừ giáo dục phải được tính nhân lên theo số lượng người phụ thuộc và phân chia rõ theo từng cấp học. Tại các siêu đô thị đang có tỷ lệ sinh thấp báo động như TP. Hồ Chí Minh, TP. Hà Nội, việc linh hoạt giảm trừ thuế theo số con còn mang ý nghĩa vĩ mô giúp kích cầu khuyến sinh. Đồng thời, lĩnh vực y tế cần có hạn mức mở, đặc biệt ưu tiên không khống chế trần đối với các căn bệnh hiểm nghèo, bệnh mãn tính điều trị dài ngày.
Có thể thấy, đề xuất giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế thu nhập cá nhân nhận được sự đồng thuận cao về mặt chủ trương. Tuy nhiên, để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng rõ ràng, linh hoạt và phù hợp với thực tế, đặc biệt là về điều kiện chứng từ và thủ tục kê khai. Chỉ khi đó, mục tiêu giảm gánh nặng thuế, nâng cao chất lượng sống và thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực mới có thể đạt được một cách trọn vẹn.
Hương Giang