Đề xuất mới về vị trí việc làm của viên chức

Đề xuất mới về vị trí việc làm của viên chức
2 giờ trướcBài gốc
Dự thảo Nghị định quy định về vị trí việc làm viên chức (dự thảo Nghị định) đã được Bộ Nội vụ xây dựng và đang lấy ý kiến nhân dân.
KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ, BẤT CẬP TRONG QUẢN LÝ VIÊN CHỨC HIỆN NAY
Bộ Nội vụ cho biết, Luật Viên chức năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2019) đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả cung cấp dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công lập.
Tuy nhiên, việc quản lý viên chức theo mô hình chức nghiệp kết hợp với vị trí việc làm (vị trí việc làm gắn với chức danh nghề nghiệp) chưa thực sự tạo động lực để viên chức phấn đấu nâng cao chất lượng công việc; công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bố trí, sử dụng chưa thực sự gắn với yêu cầu của vị trí việc làm; chưa thực sự tuyển chọn, thu hút, khuyến khích người có đức, có tài, có năng lực, trình độ, nhất là nguồn nhân lực trẻ, chất lượng cao.
Thực hiện Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Chính phủ đã ban hành Nghị định số 106/2020/NĐ-CP và các bộ quản lý ngành, lĩnh vực đã ban hành Thông tư hướng dẫn về vị trí việc làm viên chức theo phân công của Chính phủ.
Theo chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Bí thư hiện nay, việc rà soát, hoàn thiện vị trí việc làm là vấn đề cần được thực hiện để đáp ứng được yêu cầu về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, đơn vị và đáp ứng yêu cầu phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Luật Viên chức số 129/2025/QH15 (Luật Viên chức năm 2025) được Quốc hội thông qua đã xác lập nguyên tắc quản lý viên chức theo vị trí việc làm, thay đổi căn bản mô hình quản lý viên chức so với Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Theo đó, chế định chức danh nghề nghiệp viên chức không còn được quy định trong Luật, vị trí việc làm trở thành căn cứ trung tâm để tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đánh giá và quản lý viên chức.
Việc ban hành Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm viên chức nhằm cụ thể hóa quy định của Luật Viên chức năm 2025. Đồng thời, thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm; Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; Khắc phục những hạn chế, bất cập trong quản lý viên chức hiện nay.
Từ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn nêu trên, việc ban hành Nghị định quy định về vị trí việc làm viên chức để quy định chi tiết Luật Viên chức năm 2025 về nội dung liên quan đến vị trí việc làm viên chức và bãi bỏ các quy định liên quan về vị trí việc làm viên chức tại Nghị định số 106/2020/NĐ-CP là cần thiết.
Mục đích ban hành của Nghị định nhằm cụ thể hóa quy định của Luật Viên chức năm 2025 về quản lý viên chức theo vị trí việc làm; xác lập vị trí việc làm là căn cứ trung tâm trong quản lý viên chức; thiết lập cơ chế quản lý viên chức theo vị trí việc làm thống nhất trong toàn quốc làm cơ sở cho việc bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, phát triển đội ngũ viên chức gắn với yêu cầu nhiệm vụ. Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý thực hiện xếp lương theo vị trí việc làm khi cấp có thẩm quyền ban hành chính sách tiền lương mới.
QUY ĐỊNH DANH MỤC VỊ TRÍ VIỆC LÀM KHUNG
Với 5 chương, 18 điều, dự thảo Nghị định có một số nội dung sửa đổi, hoàn thiện đáng quan tâm.
Thứ nhất, về danh mục vị trí việc làm, dự thảo Nghị định quy định danh mục vị trí việc làm khung do Chính phủ ban hành (bao gồm: Phụ lục I là danh mục vị trí việc làm quản lý; Phụ lục II là danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và Phụ lục III là danh mục vị trí việc làm hỗ trợ).
Danh mục vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và danh mục vị trí việc làm hỗ trợ được xác định theo nguyên tắc mỗi lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp hoặc lĩnh vực hoạt động khác tương ứng với một vị trí việc làm. Trong từng vị trí việc làm đã xác định các bậc phát triển nghề nghiệp của từng vị trí việc làm.
Theo đó, căn cứ danh mục vị trí việc làm khung, đơn vị sự nghiệp công lập lựa chọn các vị trí việc làm và các bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm tương ứng được sử dụng tại đơn vị mình, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao để thực hiện việc tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, thực hiện chính sách tiền lương, chế độ, chính sách và các nội dung quản lý khác đối với viên chức theo vị trí việc làm.
Thực hiện quy định này bảo đảm việc xây dựng vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập được thực hiện thống nhất theo quy định của Chính phủ, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực không ban hành hướng dẫn về danh mục vị trí việc làm thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý như quy định tại Nghị định số 106/2020/NĐ-CP.
Thứ hai, về xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm, dự thảo Nghị định quy định thực hiện theo mẫu chung tại Phụ lục IV kèm theo, bảo đảm các đơn vị sự nghiệp công lập áp dụng đồng bộ, tránh mỗi nơi xây dựng theo cách riêng, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về vị trí việc làm viên chức.
Thứ ba, về thực hiện xác định vị trí việc làm, dự thảo Nghị định quy định căn cứ danh mục vị trí việc làm khung và các bậc nghề nghiệp tương ứng của vị trí việc làm quy định tại Phụ lục II, Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, lĩnh vực hoạt động sự nghiệp theo quy định của cấp có thẩm quyền, đơn vị sự nghiệp công lập có trách nhiệm: lựa chọn các vị trí việc làm cụ thể để sử dụng trong đơn vị mình; lựa chọn các bậc nghề nghiệp được sử dụng của từng vị trí việc làm trong số các bậc đã được quy định tại danh mục vị trí việc làm theo quy định tại Nghị định này; xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm; xác định yêu cầu về trình độ đào tạo, điều kiện hành nghề (nếu có) phù hợp với pháp luật chuyên ngành; xác định tỷ lệ viên chức bố trí theo từng bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm theo quy định. Đồng thời, việc xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm phải bảo đảm phù hợp với hướng dẫn về nội dung chuyên môn, nghiệp vụ, khung năng lực và yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp do Bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp ban hành (nếu có).
Thực hiện nội dung này, các đơn vị sự nghiệp sẽ chủ động xác định vị trí việc làm được sử dụng cụ thể tại đơn vị mình trên cơ sở danh mục vị trí việc làm và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định của cấp có thẩm quyền mà không phải đợi văn bản hướng dẫn của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực về danh mục vị trí việc làm như quy định trước đây.
Thứ tư, về thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực.
Để bảo đảm thực hiện thống nhất, phù hợp với đặc thù hoạt động của lĩnh vực sự nghiệp, dự thảo Nghị định quy định trách nhiệm của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực: Hướng dẫn về phương pháp tích hợp chuẩn nghề nghiệp, tiêu chuẩn chức danh, điều kiện hành nghề (nếu có) hoặc phân hạng chuyên môn vào các bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm; hướng dẫn nội dung chuyên môn, nghiệp vụ áp dụng đối với các vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ của ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý tương ứng từng bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm, bao gồm: nhiệm vụ chuyên môn chủ yếu; sản phẩm, kết quả đầu ra của vị trí việc làm; hướng dẫn xử lý các tình huống đặc thù, vấn đề phát sinh trong quá trình xác định, sử dụng vị trí việc làm thuộc ngành, lĩnh vực.
Để bảo đảm việc xác định vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp không bị ảnh hưởng bởi việc ban hành hướng dẫn, dự thảo Nghị định cho phép trong thời gian Bộ quản lý ngành, lĩnh vực sự nghiệp chưa ban hành hướng dẫn theo quy định, đơn vị sự nghiệp công lập được áp dụng trực tiếp quy định tại Nghị định này để xác định vị trí việc làm, bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm, xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm tại đơn vị; sau khi có hướng dẫn của Bộ quản lý ngành, lĩnh vực thì thực hiện rà soát, điều chỉnh cho phù hợp.
BỔ SUNG BẬC NGHỀ NGHIỆP CỦA VỊ TRÍ VIỆC LÀM
Đi cùng với đó, dự thảo Nghị định cũng có một số nội dung mới bổ sung.
Trước hết là về bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm.
Dự thảo Nghị định xác định bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm là mức độ phát triển nghề nghiệp của viên chức trong cùng một vị trí việc làm, được xác định trên cơ sở mức độ phức tạp của nhiệm vụ, kết quả, sản phẩm công việc, mức độ đáp ứng khung năng lực và phạm vi trách nhiệm, ảnh hưởng chuyên môn.
Viên chức được bố trí vào một bậc nghề nghiệp cụ thể trong vị trí việc làm phù hợp với năng lực và yêu cầu công việc. Việc thay đổi bậc nghề nghiệp đối với viên chức không làm thay đổi vị trí việc làm áp dụng đối với viên chức đó.
Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định về chức danh, tiêu chuẩn chuyên môn, chuẩn nghề nghiệp hoặc điều kiện hành nghề thì các nội dung này được tích hợp vào yêu cầu của các bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm; không tổ chức hệ thống chức danh viên chức chuyên ngành như một hệ thống quản lý độc lập song song với hệ thống vị trí việc làm.
Với nội dung quy định này, viên chức vẫn được bảo đảm có cơ hội thăng tiến trong hoạt động nghề nghiệp, thực hiện nhiệm vụ.
Tiếp đó là về mối quan hệ giữa vị trí việc làm viên chức quản lý và vị trí việc làm viên chức chuyên môn, nghiệp vụ.
Dự thảo Nghị định xác định nhiệm vụ chuyên môn của vị trí việc làm viên chức quản lý được xây dựng theo nhiệm vụ chuyên môn của vị trí việc làm viên chức chuyên môn, nghiệp vụ tương ứng với lĩnh vực hoạt động sự nghiệp mà viên chức được giao phụ trách. Viên chức được bố trí vào vị trí việc làm quản lý không làm thay đổi hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức; viên chức quản lý có trách nhiệm duy trì, phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ trong thời gian giữ chức vụ quản lý. Việc xếp lương đối với viên chức quản lý theo chức danh chuyên môn, nghiệp vụ đang giữ phải bảo đảm phù hợp với mức độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, khung năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm viên chức chuyên môn, nghiệp vụ tương ứng.
Cùng với đó là nội dung về tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm.
Dự thảo Nghị định quy định cơ quan có thẩm quyền phê duyệt vị trí việc làm quyết định tỷ lệ bố trí viên chức theo từng bậc phát triển nghề nghiệp của vị trí việc làm:
(a) Đối với đơn vị sự nghiệp công lập do nhà nước bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên thì tỷ lệ bố trí ở bậc cao nhất trong từng vị trí việc làm được sử dụng không vượt quá 1/3 tổng số biên chế sự nghiệp được giao của vị trí việc làm đó, trừ trường hợp đặc thù do cấp có thẩm quyền quyết định.
(b) Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, tự bảo đảm chi thường xuyên và tự bảo đảm một phần chi thường xuyên: Tỷ lệ được xác định phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập, không khống chế tỷ lệ theo từng bậc.
Dự thảo Nghị định đồng thời quy định trách nhiệm của các bộ, ngành Trung ương và địa phương trong việc kết nối, cập nhật, chia sẻ dữ liệu về vị trí việc làm, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số.
Một nội dung nổi bật của dự thảo Nghị định là quy định việc áp dụng chế độ tiền lương.
Theo đó, để bảo đảm việc thực hiện chính sách tiền lương được ổn định, dự thảo Nghị định quy định trong thời gian cấp có thẩm quyền chưa ban hành văn bản thực hiện chế độ tiền lương mới đối với viên chức thì bậc, hệ số lương của chức danh viên chức theo quy định của pháp luật về tiền lương hiện hành được sử dụng làm căn cứ kỹ thuật chuyển tiếp để xếp lương và thực hiện chế độ, chính sách tiền lương đối với viên chức được tuyển dụng, bố trí vào vị trí việc làm quy định tại Nghị định này.
Viên chức được tuyển dụng theo quy định của Luật Viên chức năm 2025 áp dụng chế độ tiền lương hiện hành ở bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm được tuyển dụng.
Cụ thể: (a) Bậc 1 xếp lương tương đương ngạch nhân viên; (b) Bậc 2 xếp lương tương đương ngạch cán sự; (c) Bậc 3 xếp lương tương đương ngạch chuyên viên; (d) Bậc 4 xếp lương tương đương ngạch chuyên viên chính; (đ) Bậc 5 xếp lương tương đương ngạch chuyên viên cao cấp.
Đồng thời, Nghị định xác định, viên chức được bổ nhiệm vào vị trí việc làm quản lý quy định tại Nghị định này được xếp lương theo bậc, hệ số lương của chức danh viên chức chuyên môn đang giữ theo quy định của pháp luật về tiền lương hiện hành.
Viên chức đang xếp lương theo các hạng chức danh nghề nghiệp chuyển sang bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm quy định tại Nghị định này và thực hiện xếp lương như sau:
(a) Chuyển vào bậc 1 đối với trường hợp đang xếp lương tương đương ngạch nhân viên và tiếp tục xếp lương theo bậc, hệ số lương đang xếp;
(b) Chuyển vào bậc 2 đối với trường hợp đang xếp lương tương đương ngạch cán sự và tiếp tục xếp lương theo bậc, hệ số lương đang xếp;
(c) Chuyển vào bậc 3 đối với trường hợp đang xếp lương tương đương ngạch chuyên viên và tiếp tục xếp lương tương theo bậc, hệ số lương đang xếp;
(d) Chuyển vào bậc 4 đối với trường hợp đang xếp lương tương đương ngạch chuyên viên chính và tiếp tục xếp lương theo bậc, hệ số lương đang xếp;
(đ) Chuyển vào bậc 5 đối với trường hợp đang xếp lương tương đương ngạch chuyên viên cao cấp và tiếp tục xếp lương theo bậc, hệ số lương đang xếp.
NGÂN ANH
Nguồn Nhân Dân : https://nhandan.vn/de-xuat-moi-ve-vi-tri-viec-lam-cua-vien-chuc-post954099.html