Người dân đến giải quyết thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công - Chi nhánh số 3 - phường Đống Đa, Hà Nội. (Ảnh: nhandan.vn)
GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ TRONG SỬ DỤNG, QUẢN LÝ VIÊN CHỨC
Bộ Nội vụ đã xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (sau đây gọi tắt là dự thảo Nghị định) và đang lấy ý kiến nhân dân trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
Theo Bộ Nội vụ, trong quá trình thực hiện các quy định về xử lý kỷ luật viên chức phát sinh một số vướng mắc cần sửa đổi để bảo đảm thống nhất như nguyên tắc xử lý, áp dụng hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật…
Xuất phát từ các căn cứ nêu trên, để kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật của Nhà nước thì việc ban hành Nghị định thay thế các quy định về xử lý kỷ luật đối với viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP và Nghị định số 71/2023/NĐ-CP là cần thiết.
Mục tiêu ban hành Nghị định nhằm thể chế hóa các quy định của Đảng, Luật Viên chức năm 2025 về xử lý kỷ luật viên chức; bảo đảm thống nhất khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương sang 2 cấp (cấp tỉnh, cấp xã) sau khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi) năm 2025 có hiệu lực thi hành. Đồng thời, kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong sử dụng và quản lý viên chức.
Dự thảo Nghị định được xây dựng nhằm thể chế hóa đầy đủ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ.
Cùng với đó, rà soát đầy đủ để kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong tổ chức thực hiện.
Bên cạnh đó, kế thừa các quy định hiện hành, bảo đảm việc triển khai thực hiện Nghị định có hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ với các quy định có liên quan.
NHỮNG ĐỀ XUẤT ĐÁNG QUAN TÂM VỀ KỶ LUẬT VIÊN CHỨC
Với bố cục 5 chương, 27 điều, dự thảo Nghị định quy định về nguyên tắc xử lý kỷ luật; việc áp dụng các hình thức kỷ luật; thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với viên chức.
Dự thảo Nghị định áp dụng đối với viên chức theo quy định tại Điều 1 Luật Viên chức năm 2025 và viên chức đã thôi việc, nghỉ hưu (sau đây gọi chung là người đã thôi việc, nghỉ hưu). Trong đó, có một số nội dung mới đáng chú ý.
Thứ nhất, về nguyên tắc xử lý kỷ luật, dự thảo bổ sung quy định xử lý kỷ luật về đảng liên quan đến hoạt động công vụ, hoạt động nghề nghiệp bằng hình thức cao nhất liên quan thì cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật xem xét, quyết định xử lý kỷ luật hành chính bằng hình thức cao nhất.
Dự thảo Nghị định cũng sửa đổi quy định về tái phạm: Viên chức có hành vi vi phạm lần đầu đã bị xử lý kỷ luật mà trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày quyết định xử lý kỷ luật có hiệu lực thi hành tiếp tục vi phạm hành vi đã bị kỷ luật thì bị coi là tái phạm để bảo đảm thống nhất với Quy định số 69-QĐ/TW cũng như thống nhất với khoản 9 Điều này.
Thứ hai, về các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật tại Điều 3, dự thảo Nghị định bỏ khoản 1 quy định về trường hợp viên chức đang trong thời gian nghỉ hằng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng được cấp có thẩm quyền cho phép để thống nhất với quy định đối với cán bộ, công chức, tránh tình trạng lợi dụng để kéo dài việc xử lý kỷ luật.
Tại khoản 2, Điều 3 sửa đổi, bổ sung trường hợp viên chức là nam giới (trong trường hợp vợ chết hoặc vợ không thể nuôi con vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về tình trạng khẩn cấp) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người có hành vi vi phạm có văn bản đề nghị xem xét xử lý kỷ luật để xác định rõ tình huống theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Thứ ba, dự thảo Nghị định bổ sung quy định cụ thể về các trường hợp loại trừ, miễn, giảm trách nhiệm kỷ luật (Điều 4) để bảo đảm tính thống nhất theo Điều 34 Luật Viên chức năm 2025 (mặc dù Luật không giao Chính phủ quy định chi tiết); thể chế hóa quy định tại Quy định số 69-QĐ/TW; Quy định số 296-QĐ/TW ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 của Chính phủ. Trong đó, bổ sung điểm g khoản 2 Điều 4 về “Các trường hợp khác theo quy định của Bộ luật Hình sự và quy định của cấp có thẩm quyền”.
Đồng thời, bổ sung khoản 5 về “Đình chỉ, hoãn thi hành quyết định xử lý kỷ luật; hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật đối với các trường hợp đã có quyết định xử lý kỷ luật”, cụ thể như sau:
“a) Trường hợp đang thi hành quyết định kỷ luật mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án, tạm hoãn phiên tòa hoặc hoãn chấp hành hình phạt tù thì cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật hành chính ban hành quyết định tạm đình chỉ hoặc tạm hoãn thi hành quyết định xử lý kỷ luật theo quy định;
b) Trường hợp đã thi hành xong quyết định kỷ luật mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về loại trừ, miễn trách nhiệm hình sự thì cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật hành chính ban hành quyết định hủy bỏ quyết định xử lý kỷ luật hành chính đã thi hành và xóa hình thức kỷ luật ghi vào lý lịch của viên chức”.
Việc bổ sung các nội dung nêu trên để thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Bộ Chính trị về xử lý vi phạm pháp luật về đất đai trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực theo Kết luận số 182-KL/TW, ngày 29/7/2025 và Kết luận số 218-KL/TW, ngày 24/11/2025 của Bộ Chính trị; đồng thời, bảo đảm cơ sở pháp lý đồng bộ áp dụng chung cho tất cả các lĩnh vực khác.
Thứ tư, về các hành vi bị xử lý kỷ luật, dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định: Viên chức có hành vi vi phạm quy định của Đảng và pháp luật có liên quan đến hoạt động nghề nghiệp; các quy định về nghĩa vụ của viên chức; những việc viên chức không được làm; vi phạm đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, văn hóa giao tiếp ở công sở, giao tiếp với nhân dân; vi phạm nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị (khoản 1), để phù hợp với Luật Viên chức năm 2025.
Đồng thời, bỏ mức độ vi phạm “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” để thống nhất với mức độ vi phạm trong xử lý kỷ luật đảng viên quy định tại Quy định số 69-QĐ/TW.
Thứ năm là thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với viên chức.
Dự thảo Nghị định bỏ quy định “Đối với viên chức giữ chức vụ, chức danh do bầu thì cấp có thẩm quyền phê chuẩn, quyết định công nhận kết quả bầu cử tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật” để phù hợp với quy định tại Điều 1, khoản 2 Điều 4 Luật Viên chức năm 2025.
Thứ sáu, về tổ chức họp kiểm điểm, dự thảo Nghị định bổ sung quy định những người trong cùng vụ việc bị xem xét kỷ luật không được chủ trì họp kiểm điểm; trường hợp này thì lãnh đạo cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng viên chức tổ chức họp kiểm điểm, quyết định thành phần dự họp và chủ trì cuộc họp. Việc bổ sung quy định này để tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện, bảo đảm khách quan, phù hợp với thực tiễn.
Đồng thời, thành phần dự họp (khoản 2) bỏ đại diện công đoàn để thực hiện theo Kết luận số 157-KL/TW ngày 25/5/2025 của Bộ Chính trị.
Thứ bảy, về thành phần Hội đồng kỷ luật, Nghị định quy định thống nhất số lượng thành viên Hội đồng là 3 người để phù hợp với việc không lập tổ chức công đoàn trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo Kết luận số 157-KL/TW ngày 25/5/2025 của Bộ Chính trị, tạo sự linh hoạt, kịp thời; quy định trách nhiệm cử người tham gia cuộc họp Hội đồng kỷ luật và các trường hợp thay thế.
Thứ tám, về thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với người đã thôi việc, nghỉ hưu tại Điều 19, Khoản 1 và Khoản 2 chỉ xác định thẩm quyền xử lý kỷ luật của cấp có thẩm quyền bổ nhiệm viên chức giữ chức vụ, chức danh (bỏ nội dung về phê chuẩn, quyết định phê duyệt kết quả bầu cử và các nội dung liên quan đến Quốc hội phê chuẩn) để phù hợp với Điều 1, khoản 2 Điều 4 Luật Viên chức năm 2025.
Thứ chín, về trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với người đã thôi việc, nghỉ hưu tại Điều 20, Khoản 1 bỏ quy định về thẩm quyền xử lý kỷ luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội do không có đối tượng viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền xử lý kỷ luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đồng thời, bỏ quy định riêng về thẩm quyền xử lý kỷ luật của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện theo quy định chung là: “Trường hợp đã có quyết định xử lý kỷ luật của cấp có thẩm quyền đối với người đã thôi việc, nghỉ hưu có hành vi vi phạm trong quá trình công tác; căn cứ vào quyết định xử lý kỷ luật của cấp có thẩm quyền, cơ quan tham mưu về công tác cán bộ của cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật đề xuất hình thức kỷ luật, thời điểm xử lý kỷ luật và thời gian thi hành kỷ luật”.
Khoản 2 bổ sung về kiểm điểm cụ thể như sau: “Trường hợp chưa có quyết định xử lý kỷ luật của cấp có thẩm quyền đối với người đã thôi việc, nghỉ hưu có hành vi vi phạm trong quá trình công tác, cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật quy định tại Điều 19 Nghị định này tổ chức họp kiểm điểm theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 14 Nghị định này trước khi ra quyết định xử lý kỷ luật và chịu trách nhiệm về quyết định của mình” để bảo đảm các nguyên tắc quy định tại Điều 2 Nghị định này.
TRỌNG ANH