Di sản 'mắc kẹt' vì chủ nhân qua đời mà không có giấy chứng tử

Di sản 'mắc kẹt' vì chủ nhân qua đời mà không có giấy chứng tử
4 giờ trướcBài gốc
Giữa nhịp phát triển sôi động của đời sống kinh tế – xã hội hiện nay, vẫn tồn tại không ít căn nhà không thể tham gia vào bất kỳ giao dịch dân sự nào, dù giá trị tài sản rất lớn và chủ sở hữu thực sự vẫn còn những người thừa kế hợp pháp.
Những căn nhà ấy không thể mua bán, chuyển nhượng, thế chấp hay cho thuê, không thể tạo ra giá trị kinh tế cho gia đình và xã hội. Những ngôi nhà bị "treo" suốt nhiều năm, không được sống một đời sống pháp lý trọn vẹn chỉ vì thiếu một giấy tờ tưởng chừng đơn giản: Giấy chứng tử của người đã chết hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết hoặc người thừa kế đã chết (nếu có).
Không thể khai thừa kế vì thiếu giấy tờ
Không có thống kê chính thức về số lượng những căn nhà đang rơi vào tình trạng này, nhưng trên thực tế, đây là một vấn đề không hề nhỏ. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử, chiến tranh, di cư... Rất nhiều người đã qua đời từ lâu nhưng gia đình không còn lưu giữ giấy tờ chứng minh việc chết, không xác định được nơi cư trú cuối cùng hoặc nơi người đó qua đời. Hệ quả là thủ tục khai tử không thể thực hiện, kéo theo việc phân chia di sản thừa kế cũng bị bế tắc.
Qua nhiều thời kỳ, pháp luật Việt Nam đều đặt ra yêu cầu đăng ký khai tử nhằm phục vụ công tác quản lý hộ tịch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.
Từ những ngày đầu, Nghị định số 764-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8-5-1956 ban hành bản Điều lệ đăng ký hộ tịch quy định: Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày chết, phải đem giấy phép mai táng đến Ủy ban hành chính nơi chết xin đăng ký.
Đối với những việc sinh, tử, kết hôn trước ngày công bố thi hành bản điều lệ này, nếu chưa đăng ký thì có thể xin đăng ký quá hạn; nếu đăng ký rồi mà sổ sách giấy tờ bị thất lạc không xin được bản sao hoặc chỉ làm giấy khai danh dự, thì có thể xin đăng ký lại. Người đương sự sẽ làm đơn xin đăng ký ở nơi đã xảy ra sự việc. Trường hợp đặc biệt có thể xin đăng ký ở nơi hiện đang cư trú”.
Ảnh minh họa.
Các văn bản pháp luật sau này tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý hộ tịch, từ Nghị định số 4-CP năm 1961, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP cho đến Luật Hộ tịch năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: UBND cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì UBND cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.
Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định: Trường hợp đăng ký khai tử cho người chết đã lâu, không có Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay thế Giấy báo tử theo quy định thì người yêu cầu đăng ký khai tử phải cung cấp được giấy tờ, tài liệu, chứng cứ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận hợp lệ chứng minh sự kiện chết.
Tuy nhiên, dù hệ thống pháp luật ngày càng chặt chẽ, thực tế vẫn tồn tại nhiều trường hợp người dân hoàn toàn không thể cung cấp giấy tờ, tài liệu hoặc chứng cứ chứng minh sự kiện chết, nơi cư trú cuối cùng của người chết, hoặc nơi người đó chết.
Đồng thời khi không cung cấp được tài liệu về nơi cư trú cuối cùng của người chết thì người dân cũng không thể làm thủ tục yêu cầu tuyên bố một người là đã chết để có căn cứ thực hiện thủ tục khai tử. Điều 39 Luật Tố tụng dân sự 2015 quy định Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết.
Do đó, người dân không thể thực hiện được việc yêu cầu đăng ký khai tử để có giấy chứng tử cho việc phân chia di sản thừa kế. Những di sản để lại tiếp tục nằm im lìm qua nhiều thế hệ, không thể giao dịch, không thể khai thác giá trị kinh tế.
Cần giải pháp tháo gỡ
Trong quá trình giải quyết hồ sơ thừa kế, các công chứng viên cũng rơi vào thế khó. Pháp luật hiện hành quy định rất rõ trách nhiệm của công chứng viên khi tiếp nhận và xử lý hồ sơ. Công chứng viên sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính 10-15 triệu đồng, tước quyền sử dụng thẻ công chứng viên nếu giải quyết hồ sơ thừa kế mà không có giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết hoặc người thừa kế đã chết (nếu có).
Để tháo gỡ khó khăn cho người dân, nhiều công chứng viên đã phải vận dụng linh hoạt trong khuôn khổ cho phép. Có trường hợp người yêu cầu công chứng được hướng dẫn chụp hình phần mộ có bia mộ, hũ đựng tro cốt, di ảnh của người chết… Sau đó người yêu cầu công chứng tự khai thông tin, cam kết về thông tin theo nguyên tắc “thiện chí, trung thực không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.
Hoặc cách khác là công chứng viên chấp nhận cho người yêu cầu công chứng sử dụng các loại lý lịch, văn bản do cơ quan nhà nước xác nhận để chức minh sự kiện chết. Tuy nhiên việc sử dụng các loại tài liệu này chỉ đáp ứng được 1 bộ phận dân cư trong xã hội, còn nhiều trường hợp khác vẫn chưa được giải quyết. Điều đó đồng nghĩa với việc quyền tài sản của người dân tiếp tục bị “treo”.
Thực tiễn hành nghề công chứng cho thấy phần lớn những trường hợp không thể làm giấy chứng tử đều liên quan đến những người qua đời trước năm 1987. Đây không còn là câu chuyện riêng lẻ của từng gia đình mà đã trở thành một vấn đề xã hội cần được nhìn nhận nghiêm túc. Bởi phía sau mỗi căn nhà không thể giao dịch là một phần tài sản của xã hội đang bị lãng phí, một nguồn lực kinh tế không thể vận hành đúng giá trị của nó.
Từ thực tiễn đó, cần thiết phải có một cơ chế pháp lý đặc thù để giải quyết dứt điểm tình trạng này. Một nghị quyết của Quốc hội có thể là giải pháp phù hợp nhằm tháo gỡ vướng mắc cho những trường hợp người chết từ quá lâu, không còn giấy tờ chứng minh sự kiện chết hoặc nơi cư trú cuối cùng.
Tinh thần của cơ chế này có thể kế thừa quy định trước đây tại Nghị định số 764-TTg năm 1956, cho phép người thừa kế hoặc đại diện người thừa kế lập giấy khai danh dự (Giấy cam kết có nội dung và mẫu đính kèm) để thực hiện đăng ký khai tử ở nơi đã xảy ra sự việc được khai trên Giấy cam kết hoặc xin đăng ký khai tử ở nơi cư trú của người làm thủ tục đăng ký khai tử.
Khi những nút thắt pháp lý được tháo gỡ, không chỉ quyền lợi chính đáng của người dân được bảo đảm mà còn góp phần “đánh thức” một lượng lớn tài sản đang ngủ yên trong xã hội, trả lại cho những căn nhà ấy một đời sống pháp lý và kinh tế trọn vẹn.
TS.CCV NINH THỊ HIỀN, Trưởng Văn phòng Công chứng Bảy Hiền
Nguồn PLO : https://plo.vn/di-san-mac-ket-vi-chu-nhan-qua-doi-ma-khong-co-giay-chung-tu-post909443.html