Người dân chụp ảnh lưu lại khoảnh khắc tại gian trưng bày của Làng lụa Vạn Phúc. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)
Hiện nay, Hà Nội có 1.350 làng có nghề và làng nghề truyền thống, trong đó có 337 làng nghề, làng nghề truyền thống và nghề truyền thống được công nhận. Đây là nguồn tài nguyên văn hóa quý giá, tạo nên bản sắc riêng của Hà Nội với nhiều sản phẩm nổi tiếng như gốm sứ, lụa tơ tằm, khảm trai, điêu khắc gỗ, sơn mài, mây tre đan, thêu ren...
Trong số đó, có 4 làng nghề của Hà Nội tham gia Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới là Làng nghề gốm sứ Bát Tràng, Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc, Làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ và Làng nghề điêu khắc, sơn mỹ nghệ Sơn Đồng.
Làng gốm Bát Tràng
Làng gốm Bát Tràng, thuộc xã Bát Tràng, Hà Nội, là một trong những làng nghề gốm lâu đời và nổi tiếng Việt Nam. Theo truyền thuyết, xưa ở Bát Tràng có 72 gò đất sét trắng, một số thợ Bồ Bát (nay thuộc Ninh Bình) thời Lý đã di cư cùng họ Nguyễn Ninh Tràng đến đây lập lò gốm với tên gọi là Bạch Thổ Phường (phường đất trắng).
Thế kỷ 15, Bát Tràng được ghi nhận trong sử liệu là làng nghề gốm nổi tiếng, được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh.
Quy trình sản xuất gốm tại làng Bát Tràng phải trải qua 7 bước, gồm: xử lý, pha chế đất, tạo dáng, tạo văn, hoa trang trí; phủ men (tráng men) và nung sản phẩm, được đúc kết qua câu “Nhất xương, nhì da, thứ ba dạc lò."
Công đoạn nặn, vuốt tạo hình sản phẩm gốm Bát Tràng luôn là công đoạn khó nhất, phải được thực hiện từ những thợ lành nghề với đôi tay khéo léo. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)
Nét đẹp và độ tinh xảo của gốm Bát Tràng được thể hiện ở quy trình sản xuất thủ công trên bàn xoay, kiểu be trạch tạo xương gốm dày cùng kỹ thuật in trên khuôn gỗ và đổ rót vào khuôn thạch cao.
Đặc biệt, kỹ thuật nung gốm ở nhiệt độ cao giúp sản phẩm có độ bền cao, màu sắc đẹp và tinh xảo. Cùng với sự kết hợp tinh tế giữa các loại men cổ truyền như men ngọc, men rạn, men lam với kỹ thuật chạm khắc, vẽ tay tỉ mỉ, đã góp phần tạo nên thương hiệu nổi tiếng của làng gốm Bát Tràng.
Nghề gốm làng Bát Tràng được đưa vào Danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia năm 2019.
Sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng. Ngoài các mặt hàng truyền thống, nhiều sản phẩm mới ra đời đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài. (Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN)
Làng lụa Vạn Phúc
Làng Vạn Phúc xưa có tên Trang Vạn Bảo, thuộc xã Thượng Thanh Oai, tổng Thượng Thanh Oai, trấn Nam Sơn. Cuối thế kỷ 19, do kiêng húy tên vua Thành Thái (1889-1906) là Bảo Lân, làng đổi tên thành Vạn Phúc - cái tên mang ý nghĩa về sự phúc lành bền vững.
Tương truyền, nghề dệt lụa nơi đây đã có hơn 1.000 năm lịch sử, khởi nguồn từ bà Ả Lã Thị Nương - người con gái Cao Bằng khéo léo, khi về làm dâu đã truyền dạy kỹ thuật dệt tơ cho dân làng. Từ đó, tiếng thoi đưa trở thành nhịp điệu quen thuộc của vùng đất bên bờ sông Nhuệ.
Trải qua bao biến thiên lịch sử, nghề dệt lụa vẫn bền bỉ tồn tại. Làng Vạn Phúc được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam ghi nhận là “Làng nghề dệt lụa tơ tằm lâu đời nhất vẫn còn duy trì hoạt động.”
Năm 2023, nghề dệt lụa Vạn Phúc được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia. Hiện nay, làng có gần 800 hộ gia đình làm nghề, chiếm khoảng 60% tổng số hộ dân sinh sống tại đây. Mỗi năm, sản lượng đạt khoảng 2,5-3 triệu m2 vải, đóng góp phần lớn vào doanh thu của địa phương.
Lụa Vạn Phúc được trưng bày giới thiệu tại buổi lễ đón chứng nhận 2 làng nghề Gốm sứ Bát Tràng và Dệt lụa Vạn Phúc là thành viên Mạng lưới các thành phố thủ công sáng tạo thế giới. (Ảnh: Phương Anh/TTXVN)
Nhắc đến Vạn Phúc là nhắc đến lụa, gấm, vóc, vân, the, lĩnh, đũi…, trong đó lụa vân được xem là tinh hoa bậc nhất. Được dệt hoàn toàn từ tơ tằm tự nhiên, lụa vân có ánh sắc dịu nhẹ, không phô trương nhưng đầy cuốn hút dưới nắng. Người mặc sẽ cảm thấy ấm áp vào mùa Đông và mát mẻ vào mùa Hè.
Kỹ thuật dệt lụa vân đòi hỏi trình độ cao với hai kiểu vo dây và vo võng phức tạp, không phải gia đình nào trong làng cũng thực hiện được. Từ các họa tiết truyền thống như ngũ phúc, long vân, quần ngư vọng nguyệt, hoa lộc…, người thợ Vạn Phúc tiếp tục sáng tạo để thích ứng với thị hiếu hiện đại. Sự thay đổi nếu có chủ yếu nằm ở cải tiến thiết bị, còn tinh thần nghề xưa vẫn được giữ trọn.
Du khách nước ngoài tham quan các sản phẩm tại gian trưng bày của làng lụa Vạn Phúc. (Ảnh: Khánh Hòa/TTXVN)
Ngày nay, Vạn Phúc không chỉ là nơi sản xuất, mà còn là điểm dừng chân quen thuộc trong các tour du lịch làng nghề của Hà Nội. Khác với trước kia, khi du khách chỉ ghé mua hàng, hiện nay nhiều cơ sở đã mở cửa không gian sản xuất để khách tham quan trực tiếp quy trình dệt lụa.
Du khách được tận mắt chứng kiến từng công đoạn, từ mắc khung, lên sợi đến hoàn thiện sản phẩm. Chính trải nghiệm ấy tạo nên niềm tin về chất lượng và sự trân trọng đối với giá trị thủ công.
Làng nghề khảm trai sơn mài Chuyên Mỹ
Theo nhiều tài liệu địa phương, nghề khảm trai ở Chuyên Mỹ hình thành từ khoảng thế kỷ 11 dưới thời nhà Lý. Người dân tôn ông Trương Công Thành là tổ nghề khảm trai và hiện vẫn thờ tại đình làng Chuôn Ngọ. Qua nhiều thế hệ, nghề dần phát triển mạnh tại các thôn Chuôn Thượng, Chuôn Hạ, Chuôn Trung, Chuôn Ngọ và Bối Khê, tạo nên quần thể làng nghề nổi tiếng của vùng đất này.
Điểm đặc biệt của nghề khảm trai Chuyên Mỹ nằm ở sự cầu kỳ và độ chính xác trong từng công đoạn. Từ những mảnh vỏ trai, vỏ ốc thô sơ, người thợ phải trải qua nhiều bước như cắt, mài, đục, gắn, đánh bóng để tạo nên những hoa văn mềm mại, óng ánh trên nền gỗ sơn son thếp vàng hoặc sơn mài truyền thống. Mỗi sản phẩm không đơn thuần là vật dụng trang trí mà còn là tác phẩm nghệ thuật mang chiều sâu văn hóa dân tộc.
Nghề khảm trai đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên trì, khéo léo. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Song hành cùng khảm trai là nghệ thuật sơn mài. Sơn mài nơi đây sử dụng sơn ta truyền thống kết hợp các chất liệu như vàng, bạc, vỏ trứng, xà cừ để tạo nên lớp màu trầm sâu, bền đẹp theo thời gian. Chính sự kết hợp giữa khảm trai và sơn mài đã tạo nên bản sắc riêng cho sản phẩm thủ công Chuyên Mỹ, khó nhầm lẫn với các làng nghề khác.
Để hoàn thiện một sản phẩm khảm trai, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn công phu như chọn vỏ trai, cắt tạo hình, mài mỏng, chạm khắc, gắn lên bề mặt gỗ rồi đánh bóng. Mỗi chi tiết đều yêu cầu sự chính xác và khéo léo cao bởi chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể làm hỏng toàn bộ sản phẩm. Với nghề sơn mài, người nghệ nhân còn phải phủ nhiều lớp sơn, mài thủ công qua từng lớp để tạo độ sâu, độ bóng và màu sắc đặc trưng cho sản phẩm.
Điểm đặc biệt của khảm trai Chuyên Mỹ nằm ở việc người nghệ nhân không chỉ tái hiện hoa văn mà còn gửi gắm vào đó những giá trị văn hóa dân gian Việt Nam. Các đề tài truyền thống như “tùng-cúc-trúc-mai," cảnh sinh hoạt làng quê hay hình tượng rồng, phượng được thể hiện sinh động, góp phần tạo nên bản sắc riêng cho sản phẩm của làng nghề.
Qua nhiều thế hệ, người dân Chuyên Mỹ vẫn bền bỉ cưa, mài, ghép từng mảnh trai, mảnh ốc để làm nên những sản phẩm thủ công đặc sắc như sập gụ, tủ chè, bàn ghế, khay trà, ống trà, tranh khảm, lọ hoa và nhiều mặt hàng mỹ nghệ cao cấp khác, mang đậm giá trị nghệ thuật và bản sắc văn hóa truyền thống.
Không dừng lại ở đó, các nghệ nhân còn sử dụng chất liệu trai, ốc để tái hiện chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lãnh tụ Cuba Fidel Castro cùng nhiều danh nhân nổi tiếng trên thế giới với những đường nét tinh xảo, sống động.
Bên cạnh các sản phẩm cổ truyền, nhiều cơ sở sản xuất ở Chuyên Mỹ đã mạnh dạn đổi mới mẫu mã, kết hợp yếu tố hiện đại để phù hợp với thị hiếu thị trường trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, dù thay đổi về kiểu dáng hay công năng, các sản phẩm của làng nghề vẫn giữ được kỹ thuật thủ công tinh xảo - yếu tố làm nên danh tiếng của khảm trai, sơn mài Chuyên Mỹ suốt nhiều thế kỷ qua.
Hiện nay, Chuyên Mỹ có 20 nghệ nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu cùng hàng nghìn lao động gắn bó với nghề. Với đôi bàn tay tài hoa, óc sáng tạo, các nghệ nhân nơi đây vẫn đang ngày ngày gìn giữ nghề truyền thống.
Đặt mẫu trai trên gỗ trước khi đục mảnh. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Làng nghề điêu khắc sơn mỹ nghệ Sơn Đồng
Từ thời Tiền Lê (thế kỷ 10), với dấu ấn của Đức Thánh Đào Trực - người được xem là tổ nghề, Sơn Đồng đã hình thành nền tảng vững chắc cho nghề điêu khắc, truyền dạy qua từng thế hệ.
Sơn Đồng được ví như là "thiên đường" về đồ thờ cúng hay đồ chạm khắc thủ công mỹ nghệ. Sản phẩm của làng nghề mỹ nghệ Sơn Đồng chủ yếu là tượng và đồ thờ sơn son thếp vàng, thếp bạc, phục vụ nhu cầu văn hóa tâm linh và tín ngưỡng của người dân.
Các pho tượng gỗ ở Sơn Đồng được tạo tác theo những quy chuẩn chặt chẽ về tỷ lệ và hình khối giữa các bộ phận, nhờ đó luôn đạt sự cân đối, hài hòa và mang nét đặc trưng riêng của làng nghề. Điều đặc biệt là người thợ Sơn Đồng có thể chế tác hầu hết các pho tượng thờ theo yêu cầu mà không cần dựa vào mẫu có sẵn.
Tượng Phật được thếp vàng qua bàn tay khéo léo của người thợ Sơn Đồng. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Từ những thân gỗ mít mộc mạc, qua đôi bàn tay khéo léo và tài hoa của các nghệ nhân, những pho tượng dần hiện lên sống động, có thần thái và chiều sâu tâm linh riêng biệt.
Để tạo nên những tác phẩm ấy, người thợ không chỉ cần kỹ thuật điêu luyện và kinh nghiệm lâu năm mà còn phải am hiểu văn hóa Phật giáo, tín ngưỡng dân gian cùng các điển tích liên quan. Việc nắm rõ đặc điểm, tính cách và vị trí của từng pho tượng trong đời sống tâm linh giúp các nghệ nhân truyền được "hồn" vào mỗi tác phẩm.
Nguyên liệu chính để tạc tượng là gỗ mít - loại gỗ mềm, thớ mịn, ít nứt, dễ tạo hình và có độ bền cao. Gỗ được thu mua từ nhiều địa phương rồi loại bỏ phần giác, chỉ giữ lại lõi để chế tác. Sau khi đo kích thước và chia khối gỗ phù hợp, người thợ bắt đầu tạo hình pho tượng. Công đoạn đầu tiên là làm phần đầu và khuôn mặt với các chi tiết như mũ, trán, mũi, môi, tai…
Nghệ nhân làng nghề Sơn Đồng hoàn thiện sản phẩm. (Ảnh: TTXVN phát)
Với quy trình chế tác tỉ mỉ từ chọn gỗ, đục chạm, sơn lót, thếp vàng đến tô vẽ hoàn thiện, mỗi sản phẩm đều trải qua quá trình sáng tạo kỳ công và hỏi kỹ năng, cảm xúc và sự tĩnh tâm. Đôi bàn tay tài hoa của người nghệ nhân Sơn Đồng còn lưu dấu ấn tại các công trình văn hóa của Hà Nội như: Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Khuê Văn Các, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, chùa Một Cột...
Năm 2007, Sách Kỷ lục Việt Nam đã ghi danh Sơn Đồng là “Làng nghề tạc tượng và đồ thờ phụng Phật giáo lớn nhất Việt Nam." Hiện nay, các sản phẩm của Sơn Đồng không chỉ xuất hiện khắp mọi miền đất nước, mà còn hiện diện tại các không gian tâm linh của kiều bào Việt ở châu Âu, châu Mỹ, Đông Nam Á.../.
(Vietnam+)