Chỉ ít ngày sau khi ra mắt, MV Come My Way của Sơn Tùng M-TP tạo nên hiệu ứng mạnh trên các nền tảng số, liên tục ghi nhận những thành tích ấn tượng về lượt xem, mức độ thảo luận và độ phủ truyền thông.
Giống như những lần trước, sản phẩm mới của Sơn Tùng M-TP không chỉ thu hút sự chú ý bởi âm nhạc hay hình ảnh mà còn trở thành tâm điểm của những cuộc tranh luận sôi nổi trên mạng xã hội.
Sơn Tùng M-TP trở lại với MV "Come my way".
Chuyên gia Lê Quang Đức - Học giả Chevening 2024-2025, Thạc sĩ Công nghiệp Văn hóa và Sáng tạo tại Đại học Sussex (Vương quốc Anh) có những chia sẻ với PV Báo Điện tử VTC News về sức hút của Sơn Tùng M-TP, những tranh luận MV Come My Way cũng như cách nhìn nhận đúng về sản phẩm công nghiệp văn hóa.
- MV "Come My Way" liên tục lập thành tích ấn tượng sau khi ra mắt, tuy nhiên, bên cạnh những lời khen về phần hình ảnh, chi tiết Sơn Tùng M-TP đứng trên mô hình chim Lạc cũng gây nhiều tranh cãi. Ông nhìn nhận thế nào về chi tiết này?
Tôi nghĩ đây là tranh luận thú vị.
Ở góc độ truyền thông, thực tế còn góp phần thúc đẩy hiệu ứng lan tỏa của MV. Chi tiết này chưa đến mức tạo ra cuộc khủng hoảng văn hóa hay làn sóng tẩy chay gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới nghệ sĩ. Ngược lại, còn khiến công chúng tranh luận nhiều hơn về các biểu tượng văn hóa trong không gian pop đại chúng.
Trong bối cảnh hiện nay, việc tái diễn giải văn hóa hay sử dụng chất liệu dân gian, di sản để tạo ra sản phẩm pop hiện đại là xu hướng phổ biến trên thế giới, không chỉ ở Việt Nam và cũng không riêng Sơn Tùng M-TP theo đuổi.
Tuy nhiên, nếu nghiên cứu sâu hơn, cơ hội lớn luôn đi kèm với rủi ro. Khi biểu tượng văn hóa bước vào không gian giải trí đại chúng, nguy cơ thương mại hóa biểu tượng hoặc chiếm dụng biểu tượng là có thể xảy ra. Vì vậy, sự quan sát, lắng nghe và nghiên cứu của đội ngũ sáng tạo vẫn rất cần thiết.
Ở góc nhìn cá nhân, tôi tin rằng chi tiết đứng trên mô hình chim Lạc chắc chắn có những dụng ý hình ảnh nhất định từ ê-kíp sáng tạo. Tuy nhiên, nếu xét riêng về xử lý hình ảnh và thị giác, tôi sẽ không chọn cách dàn dựng đó. Với tôi, "đứng" (''cưỡi") không tạo được cảm giác kết nối giữa chủ thể và mô hình linh vật.
Thực tế có nhiều cách xử lý điện ảnh vừa ấn tượng hơn, vừa tránh tạo cảm giác "xâm lấn biểu tượng" với nhóm công chúng coi chim Lạc như vật tổ văn hóa của người Việt.
MV "Come my way" của Sơn Tùng M-TP và rapper Tyga.
- Không chỉ gây tranh cãi về hình ảnh, phần hát tiếng Anh của Sơn Tùng M-TP cũng nhận nhiều phản hồi trái chiều. Ông đánh giá thế nào về những ý kiến này?
Âm nhạc, trong sự vận động của công nghiệp giải trí toàn cầu hiện nay, về cơ bản vượt qua những giới hạn tuyệt đối của ngôn ngữ, ngữ pháp, giọng điệu hay cách phát âm. Khán giả quốc tế thường quan tâm nhiều hơn tới năng lượng, cá tính nghệ sĩ, hình ảnh và cảm xúc mà sản phẩm tạo ra.
Ngay cả nhiều nghệ sĩ K-pop khi hát tiếng Anh cũng không có phát âm hoàn toàn chuẩn bản ngữ, đôi khi vẫn gây khó nghe hoặc khó hiểu, nhưng điều đó không ngăn họ được đón nhận toàn cầu.
Dù vậy, việc trao đổi và trau dồi vẫn rất quan trọng. Khán giả luôn muốn nhìn thấy sự tiến bộ của nghệ sĩ qua từng sản phẩm. Với trường hợp Come My Way, ca khúc mang màu sắc moombahton/reggaeton nên cũng không quá phụ thuộc vào việc phải có giọng Anh - Mỹ hoàn hảo. Tuy nhiên, phần âm cuối và độ mượt trong phát âm tiếng Anh, theo tôi, nghệ sĩ cần cải thiện nếu tiếp tục hát tiếng Anh.
- Nhiều ý kiến cho rằng "Come my way" là sản phẩm công nghiệp văn hóa của Việt Nam, đưa hình ảnh và biểu tượng Việt Nam ra thế giới. Ông nghĩ sao?
Trong nghiên cứu công nghiệp văn hóa, sản phẩm này có thể được xem là MV thu hút chú ý bằng cách tái diễn giải văn hóa và sử dụng chất liệu dân gian, di sản trong không gian pop đại chúng. Nhưng để gọi đây là “mô hình công nghiệp văn hóa” theo đúng nghĩa thì tôi nghĩ là chưa.
Một MV thành công chưa đồng nghĩa với việc hình thành công nghiệp văn hóa bền vững. Sản phẩm có thể tạo ra hứng thú tìm hiểu về chim Lạc, trò Xuân Phả hay những chất liệu mỹ thuật Việt Nam ở một bộ phận công chúng. Đó là thành công đáng ghi nhận của việc tái diễn giải văn hóa và di sản. Song để trở thành công nghiệp văn hóa theo nghĩa tạo ra sức mạnh mềm quốc gia, cần nhiều hơn một sản phẩm như vậy.
Công nghiệp văn hóa đòi hỏi chiến lược dài hạn, hệ sinh thái vận hành đồng bộ và khả năng tạo ra ảnh hưởng văn hóa bền vững vượt ra ngoài biên giới quốc gia. MV Come my way hiện chưa làm được.
- Nếu “Come My Way” được gọi đúng là mô hình của công nghiệp văn hóa thì cần những yếu tố nào?
Sơn Tùng M-TP có tham vọng, có tiềm lực và sức hút truyền thông rất lớn. Tuy nhiên nếu chu kỳ ra sản phẩm vẫn kéo dài 2-3 năm, thiếu album và thiếu hệ thống concert nối tiếp nhau, sẽ khó định vị như nghệ sĩ khu vực hay quốc tế.
Chuyên gia truyền thông Lê Quang Đức
Điều quan trọng nhất là phải nhìn vào hệ sinh thái phía sau sản phẩm.
Nếu chỉ có một MV tiếng Anh gây bùng nổ truyền thông nhưng không có chiến lược tiếp nối như album, concert, tour diễn hay quảng bá quốc tế đủ mạnh, thì về cơ bản nó vẫn là một single thành công chứ chưa phải mô hình công nghiệp văn hóa.
Ngoài ra, công nghiệp văn hóa là mô hình liên ngành. Khi sản phẩm tạo hiệu ứng, câu hỏi tiếp theo là nghệ sĩ kết nối với bảo tàng ra sao, với địa phương như thế nào, có kích thích du lịch văn hóa hay giáo dục di sản hay không. Những liên kết đó mới tạo nên giá trị lan tỏa bền vững.
Một điểm nữa cũng cần nhìn thẳng là sản phẩm đã thực sự đi ra quốc tế chưa, hay chủ yếu mới tạo hiệu ứng truyền thông trong nước. Đây là hai cấp độ rất khác nhau.
Tôi nghĩ Come My Way là MV thành công và đáng chú ý của nhạc pop Việt Nam. Còn nâng nó lên thành mô hình công nghiệp văn hóa tiêu biểu thì theo tôi có phần hơi hưng phấn quá và vẫn cần thêm thời gian quan sát
- Nhiều người xem Sơn Tùng M-TP là ngôi sao hàng đầu V-pop hiện nay. Từ góc độ nghiên cứu công nghiệp văn hóa, ông nhận định thế nào về vị thế của Sơn Tùng M-TP trên thị trường nhạc Việt hiện nay?
Tôi nghĩ Sơn Tùng M-TP là nghệ sĩ được kỳ vọng lớn và sự kỳ vọng đó hoàn toàn có cơ sở. Anh là nghệ sĩ hạng S của một thị trường hơn 100 triệu dân, có tiềm lực tài chính, fandom mạnh, sức hút truyền thông lớn và đặc biệt có khả năng tạo ra thảo luận xã hội gần như mỗi lần trở lại. Sơn Tùng cũng có nhiều năm kinh nghiệm, ê-kíp mạnh và tư duy hình ảnh khá khác biệt trong bối cảnh V-pop.
Nhìn từ góc độ nghiên cứu công nghiệp âm nhạc và biểu diễn quốc tế, tôi cũng thấy khá rõ những giới hạn không chỉ của Sơn Tùng mà của cả thị trường nhạc Việt. Tôi từng được hỏi ai là ngôi sao số một ở Việt Nam và nghĩ ngay đến Sơn Tùng nhưng lại khá chần chừ khi giới thiệu anh và giải thích theo tiêu chuẩn quốc tế.
Ca sĩ Sơn Tùng M-TP.
Ở những nền công nghiệp âm nhạc phát triển như Hàn Quốc, Anh hay Mỹ, rất khó tồn tại một nghệ sĩ được xem là “hạng S” nhưng lại thiếu hệ thống album mang tính concept và thiếu các concert cá nhân quy mô lớn kéo dài nhiều năm. Họ sẽ không thể hiểu được tại sao, Sơn Tùng lại được truyền thông coi là ca sĩ hạng S.
Sơn Tùng có tham vọng, có tiềm lực và sức hút truyền thông rất lớn. Tuy nhiên nếu chu kỳ ra sản phẩm vẫn kéo dài 2-3 năm, thiếu album và thiếu hệ thống concert nối tiếp nhau, sẽ rất khó định vị như một nghệ sĩ khu vực hay quốc tế, theo tiêu chuẩn công nghiệp âm nhạc quốc tế.
Nhưng đó cũng không hẳn là vấn đề riêng của Sơn Tùng, mà phản ánh việc công nghiệp âm nhạc Việt Nam hiện vẫn thiếu những mô hình vận hành đủ mạnh để giúp nghệ sĩ phát triển ổn định và bền vững ở quy mô quốc tế. Một mô hình tốt cũng giúp nghệ sĩ bớt “dò dẫm” hơn trong hành trình phát triển sự nghiệp.